mở đầu của hoạt động nhận thức, “phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ”. Tri giác là quá trình tâm lý tiếp theo, phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con người. ở đây, học sinh dùng các giác quan của mình để tiếp xúc với tài liệu học tập mới do giáo viên giới thiệu, nhằm thu thập những tài liệu cảm tính cần thiết. Vì vậy giai đoạn này, giáo viên thường sử dụng đồ dùng trực quan, biểu diễn những thí nghiệm đơn giản, cho học sinh xem những hình ảnh, những mẫu hoàn hảo.
Việc sử dụng rộng rãi phương pháp trực quan trong dạy học là vì năng lực dẫn thông tin của đường tri giác bằng mắt lớn gấp một trăm lần đường tri giác bằng tai. Giai đoạn nhận thức này đòi hỏi người học phải tích cực quan sát “tri giác”. Vì những gì học sinh tri giác được ở đó cũng được coi là một dạng kiến thức. Tuy nhiên, kiến thức mà học sinh thu nhận được chỉ là những tính chất và dấu 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiệu bên ngoài hết sức đơn giản.
Nhưng cảm giác, tri giác của học sinh ở giai đoạn này càng được nhiều, càng đầy đủ thì sẽ càng giúp ích được nhiều cho các giai đoạn nhận thức, học tập về sau. Để nhận thức được chân thực, chính xác không chỉ dừng lại ở giai đoạn cảm giác, tri giác các hiện tượng, sự vật và ở sự hình thành các biểu tượng mà cần thiết phải phát hiện ra bản chất của các hiện tượng, những mối liên hệ và phụ thuộc nhân quả tồn tại trong những sự vật hiện tượng. Đó là một bậc cao hơn của sự nhận thức. Cấp độ thứ hai: Thông hiểu tài liệu là giai đoạn chiếm lĩnh kiến thức ở mức độ đơn giản nhất.
Thông hiểu tài liệu là quá trình nhận thức đòi hỏi phải thực hiện những thao tác tư duy nhất định như: Đối chiếu, phân tích, tìm ra những dấu hiệu bản chất và biết khái quát thành những khái niệm, những phạm trù. ở đây nhận thức đòi hỏi phải có một tư duy trừu tượng cao. Tuy nhiên quá trình tư duy không tự diễn ra. Về mặt tâm lý học, nó đòi hỏi một sự kích thích cho tư duy, cho tính tích cực trí tuệ của học sinh.
Kharlamop trong cuốn (Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào) thì những cái để kích thích cho tư duy chính là những câu hỏi “Cái gì”, “Tại sao”, “Vì nguyên nhân gì” và cần phải có tài liệu. Những câu hỏi này về bản chất được khơi nguồn từ cấp độ tri giác tài liệu. Yêu cầu nhận thức, học tập phải đạt được ở cấp độ này là học sinh phải khái quát hoá hình thành kết luận, quy tắc, quy luật … nghĩa là phải hình thành được khái niệm. Đây là quá trình cũng đòi hỏi học sinh phải hoạt động tư duy, tích cực trong nhận thức.
Cấp độ thứ ba: Ghi nhớ kiến thức là giai đoạn hiểu kiến thức một cách thấu đáo và đầy đủ hơn. Yêu cầu của sự nhận thức trong quá trình học tập không chỉ dừng lại ở sự thông hiểu các hiện tượng nghiên cứu. Bước tiếp theo trong nhận thức đòi hỏi tài liệu học tập phải được lĩnh hội ở mức tái hiện. Sự thông hiểu tài liệu 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bắt đầu trở thành kiến thức của học sinh khi mà học sinh nắm vững nó một cách thành thạo và có thể tái hiện nó một cách rành mạch và đúng đắn.
Ghi nhớ luôn luôn mang tính chọn lọc. Con người không ghi nhớ tất cả những gì đã xảy ra trong cuộc sống mà tuỳ theo động lực, mục đích, hứng thú và phương tiện, hoạt động mà đối tượng nào sẽ được “lựa chọn” trở thành biểu tượng trong trí nhớ; Ghi nhớ máy móc và ghi nhớ ý nghĩa. Để nhớ một dữ liệu, người ta chỉ cần nhớ nguyên xi mà không quan tâm đến ý nghĩa của nó, đó là ghi nhớ máy móc; Ghi nhớ ý nghĩa lại dựa trên cơ sở ý nghĩa của dữ liệu cần ghi nhớ; Ghi nhớ không chủ định là ghi nhớ vì một lý do nào đó xuất hiện ngẫu nhiên có liên quan đến nhu cầu, hứng thú và tác động đến tình cảm; Ghi nhớ chủ định là ghi nhớ theo nhiệm vụ và mục đích đặt ra, có kế hoạch và phương pháp rõ ràng”. Trong đời sống nói chung và trong quá trình nhận thức, học tập nói riêng thì người ta thường sử dụng tất cả các dạng ghi nhớ này.
Tuy nhiên trong khi nghiên cứu, lĩnh hội tài liệu người học phải sử dụng hình thức ghi nhớ lựa chọn, ghi nhớ ý nghĩa, ghi nhớ có chủ định là chủ yếu. Bởi việc học là có nội dung, mục đích rõ ràng. Để có thể ghi nhớ được tài liệu đã học phải dùng đến những phương pháp sau: Phương pháp đàm thoại, đọc tài liệu theo sách giáo khoa, thuật lại nội dung đã học, tóm tắt những vấn đề cơ bản của đề tài, tự tìm ra những ví dụ của riêng bản thân để khẳng định, minh họa cho những quan điểm lý thuyết…. Khi học sinh ghi nhớ, tái hiện được tài liệu đã học thì đồng thời với quá trình đó là học sinh sẽ hiểu kiến thức một cách thấu đáo, đầy đủ hơn.
Rất có thể khi nghiền ngẫm tài liệu để có thể ghi nhớ, học sinh sẽ phát hiện ra những khía cạnh và chi tiết mới mẻ, tự bản thân cảm thấy sáng rõ mọi điều hơn mà khi học tập ban đầu, lúc tri giác đầu tiên chưa ý thức được hết. Cấp độ thứ tƣ: Luyện tập vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Xuất phát từ luận điểm triết học “thực tiền là nguồn gốc của nhận thức ,là tiêu chuẩu của chân lí ” .Trong quá trình nhận thức, học tập, học sinh 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không những cần nắm được tri thức, mà còn phải biết vận dụng tri thức vào thực tiễn. Nắm tri thức đòi hỏi học sinh phải hiểu được nội dung của tri thức, lĩnh hội được khái niệm một cách sâu sắc qua nỗ lực chủ quan ghi nhớ và vận dụng được những tri thức vào thực tiễn.
Quá trình nhận thức, học tập dù ở cấp độ nào thì cũng đòi hỏi học sinh phải có thái độ tích cực trong nghiên cứu. Nhưng ở cấp độ luyện tập vận dụng kiến thức vào thực tiễn đòi hỏi tính tích cực nhiều hơn bao giờ hết. Nó là một quá trình thử thách nỗ lực và trình độ ứng dụng của người thực hành. Nếu cả ba cấp độ nhận thức học tập trên có thể coi là thuần tuý lý thuyết thì ở cấp độ này là cấp độ thực hành.
Ba cấp độ ban đầu có thể coi là giai đoạn tích luỹ về lượng, đến cấp độ thứ tư thì học sinh mới có sự biến đổi về chất. Để việc học tập trở thành hữu ích, những kiến thức đã lĩnh hội không phải là để mở rộng tầm hiểu biết, làm phong phú thêm những biểu tượng về thế giới chung quanh mà còn phải tác động như một loại công cụ độc đáo của lao động, là sự chỉ đạo trong hoạt động sản xuất và hành vi. Chính vì vậy mà năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn, vào những nhiệm vụ cụ thể phải được rèn luyện, trau dồi đến độ thành kỹ năng, kỹ xảo. “Kỹ năng là năng lực của học sinh có thể hoàn thành những hành động nào đó gắn liền với việc áp dụng kiến thức vào thực tiễn.
Còn kỹ xảo được coi là kỹ năng thành thạo, đã tới mức tự động hoá và đặc trưng bởi một trình độ hoàn hảo nhất định ”[3]. Tóm lại, bước vận dụng có ý nghĩa quan trọng đặc biệt: Là giai đoạn đưa kiến thức sách vở thành kiến thức đời sống, là giai đoạn đòi hỏi năng lực chủ quan của người vận dụng, đòi hỏi sự suy nghĩ và đôi chút sáng tạo khi vận dụng kiến thức. Đây là một cấp độ học tập rất quan trọng, có ý nghĩa thực tiễn to lớn, đánh dấu được sự trưởng thành trong tư tưởng, tình cảm, nhận thức, tài năng, trí tuệ của học sinh. Học sinh khi vận dụng kiến thức vào thực tiễn có giá trị hai mặt: vừa chứng minh hiệu quả của quá trình học tập vừa kích thích hứng thú trong học tập.
Cấp độ nhận thức này còn có ý nghĩa đúc rút kinh nghiệm, 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khái quát hoá và hệ thống hoá kiến thức sau khi đã được thực hành. Có vận dụng kiến thức, học sinh mới thực sự nắm được tri thức, thực sự trưởng thành trong nhận thức, mới kết hợp lý luận với thực tế, học với hành, mới có cơ sở tốt để hình thành niềm tin và thế giới quan, làm sáng tỏ được bản chất của khoa học. Chúng ta có thể đi đến sơ đồ hoá cấu trúc của quá trình nhận thức học tập của học sinh như sau: Nguồn kiến Hoạt động nhận thức, thức học tập của học sinh Tri giác tài liệu Hoạt động -Giáo viên trí tuệ Tính - Tài liệu theo Thông hiểu tài liệu tích cực chương trình trong học - Tài liệu TK tập Ghi nhớ kiến thức khảo Luyện tập vận dụng kiến thức vào thực tiễn Bên trên, chúng ta đã phân tích lần lượt các cấp độ của quá trình nhận thức học tập. Mỗi cấp độ có một tác dụng riêng, một thế mạnh riêng nhưng đều có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau tạo nên một quá trình nhận thức, kiếnthừa học tập toàn vẹn.
Nhưng chúng ta phải thức nhận vào thực rằng cấp độ vận dụng kiến tiwnx thức là thước đo hiệu quả nhận thức, học tập của học sinh. Tầm quan trọng của việc vận dụng kiến thức không chỉ đối với quá trình thực hành ứng dụng mà còn có ý nghĩa ngay cả với quá trình tiếp nhận thêm tri thức mới. Muốn đạt đến kiến thức mới thì cũng phải biết vận dụng kiến thức cũ, kiến thức cũ vốn là mục đích trong lần học trước nay trở thành phương tiện cho lần học 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com này hoặc cũng có thể muốn có những kỹ năng mới thì phải vận dụng được thành thạo những kỹ năng cũ. Vận dụng kiến thức đòi hỏi sự huy động tổng hợp nhiều năng lực của người học.
“Năng lực là sự kết hợp linh hoạt và độc đáo nhiều đặc điểm tâm lý của một người, tạo thành những điều kiện chủ quan thuận lợi giúp cho người đó tiếp thu dễ dàng, tập dượt nhanh chóng và hoạt động đạt hiệu quả cao trong một lĩnh vực nào đó” [11].