Tổng quan về luận án

Chuyển dịch mô hình giáo dục từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW và Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đặt ra yêu cầu tái cấu trúc toàn diện hoạt động kiểm tra, đánh giá. Đánh giá quá trình (ĐGQT - Formative Assessment) giữ vai trò then chốt trong việc cung cấp thông tin phản hồi (TTPH) định hình hoạt động dạy học, chẩn đoán mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra và thúc đẩy đường phát triển năng lực của học sinh. Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hải Yến (Đại học Sư phạm - Đại học Huế, 2022) thuộc chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Sinh học (Mã số: 9140111), dưới sự hướng dẫn của PGS. Phan Đức Duy và TS. Đặng Thị Dạ Thuỷ, là công trình tiên phong giải quyết bài toán phát triển kĩ năng (KN) ĐGQT cho sinh viên (SV) đại học sư phạm (ĐHSP) Sinh học trong bối cảnh đổi mới giáo dục tại Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi xuất phát từ thực trạng phổ biến tại các cơ sở đào tạo giáo viên: hoạt động đánh giá ở trường phổ thông tồn tại sự chiếm ưu thế tuyệt đối của đánh giá tổng kết (ĐGTK), nặng về điểm số và thi cử trên giấy (Hayden & Lê Ngọc Lan, 2013; Đào Hoa Mai và cộng sự, 2013). Đồng thời, các chương trình đào tạo cử nhân sư phạm hiện hành dù đã bố trí học phần Kiểm tra đánh giá (thời lượng 02 tín chỉ lý thuyết) nhưng nội dung ĐGQT chưa được thiết kế thành hệ thống chuyên biệt, thiếu hụt các học phần rèn luyện KN thực hành ĐGQT theo chuẩn đầu ra phát triển năng lực.

Nghiên cứu tập trung giải quyết các câu hỏi nghiên cứu trọng tâm:

  1. Cấu trúc KN ĐGQT trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông gồm những kĩ năng thành phần và chỉ báo hành vi nào?
  2. Thực trạng nhận thức và kĩ năng thực hành ĐGQT của SV sư phạm Sinh học tại các trường ĐHSP trọng điểm đang ở mức độ nào?
  3. Qui trình và các biện pháp rèn luyện KN ĐGQT nào có khả năng nâng cao hiệu quả đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho SV?

Giả thuyết khoa học được kiểm chứng: "Nếu xác định được cấu trúc của KN ĐGQT, từ đó xây dựng và vận dụng được qui trình rèn luyện KN này thì sẽ phát triển được KN ĐGQT trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông cho SV ngành sư phạm Sinh học tại các trường ĐHSP."

Khung lý thuyết của đề tài tích hợp mô hình lý thuyết ĐGQT của Black & Wiliam (1998, 2009), Wiliam & Thompson (2007), khung năng lực đánh giá của Stiggins (2010), Schafer (1991), mô hình rèn luyện kĩ năng EDUCARE của Geoff Petty (2009) và thang đo mức độ phát triển kĩ năng của Dreyfus (2004). Phạm vi nghiên cứu khảo sát diện rộng trên 285 SV tại 05 trường ĐHSP lớn (ĐHSP Hà Nội, ĐHSP - Đại học Huế, ĐHSP - Đại học Đà Nẵng, ĐH Sài Gòn, ĐHSP TP. Hồ Chí Minh) và triển khai thực nghiệm sư phạm chuyên sâu trên nhóm đối tượng SV năm thứ 3 và năm thứ 4 tại ĐHSP Huế và ĐHSP Đà Nẵng.


Literature Review và Positioning

Nghiên cứu về ĐGQT trong lịch sử giáo dục thế giới bắt đầu từ phân định kinh điển của Michael Scriven (1967) và mô hình học tập thành thạo (mastery learning) của Benjamin Bloom (1971). Bước ngoặt lý thuyết diễn ra khi Paul Black và Dylan Wiliam (1998) thực hiện tổng quan hệ thống 250 công trình, đưa ra định nghĩa nền tảng: "ĐGQT là tất cả những hoạt động của GV và HS tạo ra TTPH và được sử dụng để điều chỉnh hoạt động dạy và học". Khái niệm này được phát triển song song với thuật ngữ "đánh giá vì học tập" (assessment for learning) của Broadfoot và cộng sự (2002) nhằm phân biệt với "đánh giá kết quả học tập" (assessment of learning).

Trong y văn tồn tại hai trường phái tranh luận nổi bật:

  • Trường phái tiếp cận công cụ (Instrumental / Measurement approach): Nhấn mạnh việc chuẩn hóa các công cụ đo lường vi mô (rubrics, checklists, exit tickets, concept maps) nhằm lượng hóa sự tiến bộ nhận thức của người học (Popham, 2008; Lovorn, 2011).
  • Trường phái tiếp cận tương tác xã hội (Socio-constructivist / Pedagogical interaction approach): Xem ĐGQT là tiến trình đối thoại liên tục, trong đó cốt lõi là hoạt động phản hồi (feedback loops) và kích hoạt năng lực học tập tự điều chỉnh (self-regulated learning) của học sinh (Sadler, 1989; Nicol & Macfarlane-Dick, 2006; Hattie & Timperley, 2007).

Về rèn luyện kĩ năng đánh giá cho giáo viên mầm non và sinh viên sư phạm, các nghiên cứu quốc tế chỉ ra những hạn chế đáng kể:

  • Sluijsmans và cộng sự (2002) chứng minh việc sử dụng đánh giá đồng đẳng (peer assessment) làm chuyển biến nhận thức của SV sư phạm nhưng gặp rào cản về độ tin cậy của công cụ đo lường.
  • Graham (2005) và Buck (2010) kết hợp quan sát giảng viên, thảo luận ca sư phạm và phản hồi liên tục nhằm cải thiện nhận thức về ĐGQT cho giáo viên tương lai, song chưa xây dựng được thang đo định lượng tiến trình hình thành kĩ năng thao tác.
  • Mô hình phát triển ĐG lớp học của Box (2015) và Birt và cộng sự (2017) xác lập 4 trụ cột (Mục đích - Kế hoạch - Thực hiện - Tự phản ánh) nhưng chưa cụ thể hóa cho dạy học môn Sinh học với các dạng năng lực đặc thù như nhận thức sinh học, tìm hiểu thế giới sống và vận dụng kiến thức thực tiễn.

Tại Việt Nam, các tác giả Đào Hoa Mai (2013), Phan Thị Thanh Hội và Đỗ Thị Hoài Thu (2018), Lê Lợi và Đinh Quang Báo (2019) chủ yếu khai thác các kỹ thuật và công cụ đánh giá đơn lẻ. Luận án của Nguyễn Thị Hải Yến định vị chính xác khoảng trống: Chuyển hóa toàn diện khung lý thuyết ĐGQT quốc tế thành cấu trúc kĩ năng chuyên biệt cho môn Sinh học, thiết lập quy trình can thiệp sư phạm đa giai đoạn và bộ công cụ đo lường rubric chuẩn hóa dựa trên đường phát triển kĩ năng.


Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng khung lý thuyết thực hiện ĐGQT của Wiliam & Thompson (2007) bằng việc cấu trúc hóa thành 4 nhóm kĩ năng thành phần gắn liền với chu trình dạy học Sinh học phát triển năng lực:

  1. Kĩ năng xác định mục tiêu ĐGQT: Cụ thể hóa yêu cầu cần đạt của bài học thành các chỉ báo hành vi có thể quan sát và đo lường được.
  2. Kĩ năng xác định phương pháp và thiết kế công cụ ĐGQT: Lựa chọn và phối hợp linh hoạt các phương pháp (viết, hỏi đáp, quan sát) và công cụ (câu hỏi phân hóa, bài tập tình huống thực tiễn, bảng kiểm, thang đánh giá, rubric, thẻ thoát).
  3. Kĩ năng thu nhận và xử lý TTPH: Thu thập bằng chứng định tính/định lượng trong thời gian thực qua kênh ngôn ngữ, phi ngôn ngữ, bài làm và sản phẩm học tập.
  4. Kĩ năng sử dụng TTPH: Chuyển hóa TTPH thành các hành động sư phạm nhằm điều chỉnh kế hoạch bài dạy của GV và hướng dẫn HS tự điều chỉnh việc học.

Luận án xác lập định nghĩa tường minh: "KN ĐGQT là khả năng thực hiện có hiệu quả hoạt động thu thập thông tin và sử dụng chúng để điều chỉnh QTDH, từ đó giúp rút ngắn khoảng cách giữa trình độ hiện tại của người học với mục tiêu dạy học." Đồng thời, nghiên cứu tích hợp thang phát triển năng lực của Dreyfus (2004) để mô tả 5 mức độ phát triển KN ĐGQT của SV: (1) Người mới, (2) Sơ cấp, (3) Có năng lực, (4) Thành thạo, (5) Chuyên gia.

       [Mục tiêu học tập & Yêu cầu cần đạt môn Sinh học]
  [Điều chỉnh kế hoạch dạy học của GV & Tự điều chỉnh của HS]

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của đề tài tạo lập sự giao thoa giữa 3 trường phái lý thuyết:

  • Lý thuyết ĐG vì học tập (Black & Wiliam, 2009): Đóng vai trò định hướng triết lý dạy học tương tác.
  • Mô hình rèn luyện kĩ năng EDUCARE (Geoff Petty, 2009): Đóng vai trò cấu trúc sư phạm gồm 8 mắt xích: Giải thích -> Thực hiện chi tiết -> Sử dụng -> Kiểm tra và sửa chữa -> Bản ghi nhớ -> Ôn tập -> Đánh giá -> Truy vấn.
  • Phân loại mức độ phản hồi (Nyquist, 2003): Chuẩn hóa 5 cấp độ phản hồi (Yếu -> Trung bình -> Cải thiện yếu -> Cải thiện trung bình -> Cải thiện mạnh) làm căn cứ đánh giá chất lượng phản hồi sư phạm của sinh viên.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Đề tài vận dụng triết lý thực dụng kết hợp thực chứng (Pragmatism & Positivism) thông qua thiết kế nghiên cứu hỗn hợp (Mixed Methods Research Design):

  • Khảo sát định lượng cắt ngang (Quantitative cross-sectional survey): Đánh giá thực trạng nhận thức và kĩ năng ĐGQT của 285 SV năm 3 và năm 4 thuộc 05 trường ĐHSP trọng điểm trên cả nước.
  • Nghiên cứu định tính: Phân tích chuyên sâu chương trình đào tạo cử nhân sư phạm Sinh học năm 2018 tại 05 trường, tham vấn chuyên gia gồm các nhà nghiên cứu lí luận dạy học và giảng viên giàu kinh nghiệm.
  • Thực nghiệm sư phạm can thiệp (Quasi-experimental pedagogical design): Đo lường lặp lại qua các giai đoạn (Before - During - After intervention) trên các nhóm SV sư phạm Sinh học tại ĐHSP Huế và ĐHSP Đà Nẵng.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình rèn luyện KN ĐGQT được xây dựng gồm 4 giai đoạn logic chặt chẽ:

  1. Giai đoạn 1 - Hình thành nhận thức và cơ sở lý luận: Phân tích bản chất ĐGQT, cấu trúc kĩ năng và giới thiệu các công cụ đánh giá mẫu.
  2. Giai đoạn 2 - Tập luyện kĩ năng bộ phận: Sử dụng hệ thống phiếu hoạt động chuyên biệt để rèn luyện từng kĩ năng thành phần (Phiếu xác định mục tiêu, Phiếu thiết kế công cụ rubric/bảng kiểm, Phiếu phân tích tình huống phản hồi).
  3. Giai đoạn 3 - Vận dụng phối hợp trong thiết kế kế hoạch bài dạy: Tích hợp toàn diện hoạt động ĐGQT vào các chủ đề Sinh học cụ thể (Di truyền học, Sinh thái học, Sinh học vi sinh vật).
  4. Giai đoạn 4 - Thực hành giảng dạy vi mô (Micro-teaching) và thực tế sư phạm: SV thực hành tổ chức ĐGQT trong lớp học giả định, thu nhận phản hồi từ giảng viên và bạn học (peer assessment), tự phản hồi để hoàn thiện kĩ năng.

Độ giá trị cấu trúc (construct validity) được thẩm định qua hội đồng chuyên gia; độ tin cậy nội tại của các công cụ đo lường và thang rubric được kiểm chứng chặt chẽ.

Data và phân tích

Dữ liệu định lượng thu thập từ các bài kiểm tra đánh giá kĩ năng qua từng giai đoạn được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0. Các chỉ số thống kê mô tả gồm: Giá trị trung bình (Mean), Trung vị (Median), Yếu vị (Mode), Độ lệch chuẩn (Standard Deviation - StD), và Khoảng biến thiên (Range).

Để đánh giá ý nghĩa khoa học của sự tiến bộ, luận án sử dụng phép kiểm chứng T-test theo cặp (Paired Samples T-test) giữa các lần kiểm tra. Tiêu chuẩn bác bỏ giả thuyết $H_0$ được xác lập ở mức ý nghĩa $p < 0,05$, khẳng định sự gia tăng điểm số kĩ năng của SV là kết quả tất yếu từ quy trình can thiệp sư phạm chứ không phải do các yếu tố ngẫu nhiên.


Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Thực trạng mất cân đối nghiêm trọng: Khảo sát 285 SV tại 05 trường ĐHSP cho thấy phần lớn SV hiểu ĐGQT ở mức nhận thức khái niệm đại cương nhưng kĩ năng thiết kế công cụ chuyên sâu (đặc biệt là rubric định tính và câu hỏi phân hóa mức độ nhận thức Sinh học) đạt điểm trung bình rất thấp ($< 2,5/5,0$ theo thang Dreyfus).
  2. Sự tăng trưởng vượt bậc của kĩ năng thành phần: Dữ liệu thực nghiệm qua các lần kiểm tra liên tiếp chứng minh sự dịch chuyển tích cực của toàn bộ 4 KN thành phần:
    • KN xác định mục tiêu ĐGQT tăng từ mức Người mới/Sơ cấp lên mức Có năng lực ($p < 0,001$).
    • KN thiết kế công cụ (rubric, bảng kiểm) ghi nhận mức giảm biên độ lệch chuẩn (StD thu hẹp), phản ánh sự đồng đều trong năng lực của SV.
  3. Đột phá trong kĩ năng xử lý và cung cấp phản hồi (TTPH): Trước can thiệp, SV chủ yếu đưa ra phản hồi yếu (chỉ thông báo đúng/sai hoặc cho điểm theo lối mòn). Sau khi được rèn luyện theo quy trình, tỉ lệ SV đạt mức "Phản hồi cải thiện mạnh" (chỉ rõ sai sót đối chiếu tiêu chí và đề xuất biện pháp khắc phục cụ thể) đạt trên 70% ($p < 0,05$).
  4. Tính bền vững của năng lực: Phân tích nhóm SV điển hình cho thấy quy trình can thiệp giúp thu hẹp khoảng cách năng lực giữa nhóm SV khá-giỏi và nhóm SV trung bình, tạo lập đường phát triển kĩ năng ổn định.
Thang đo 5 mức độ
(Dreyfus)
            Khảo sát ban đầu     Kiểm tra GĐ 2      Kiểm tra GĐ 4
                          Tiến trình can thiệp rèn luyện

Implications đa chiều

  • Về mặt lý luận: Khẳng định tính tương thích của mô hình tích hợp Wiliam - Petty - Dreyfus trong việc hình thành kĩ năng sư phạm chuyên ngành, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện lí luận dạy học bộ môn Sinh học.
  • Về mặt phương pháp luận: Cung cấp bộ công cụ đo lường rubric chuẩn hóa cùng hệ thống phiếu bài tập tình huống sư phạm có thể chuyển giao và ứng dụng cho đào tạo giáo viên các môn khoa học tự nhiên khác (Vật lý, Hóa học, Khoa học tự nhiên).
  • Về mặt thực tiễn: Đưa ra giải pháp trực tiếp cho các trường ĐHSP trong việc tái cấu trúc học phần "Kiểm tra đánh giá trong giáo dục" và "Phương pháp dạy học Sinh học", tăng thời lượng thực hành rèn luyện kĩ năng vi mô.
  • Về chính sách đào tạo: Đề xuất Bộ Giáo dục và Đào tạo chuẩn hóa chuẩn đầu ra nghiệp vụ sư phạm về năng lực ĐGQT, đồng thời xây dựng các module bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ giáo viên THCS và THPT trên cả nước.

Limitations và Future Research

Nghiên cứu ghi nhận một số giới hạn học thuật khách quan:

  1. Giới hạn mẫu thực nghiệm: Thực nghiệm sư phạm được tiến hành chủ yếu tại 02 trường ĐHSP khu vực miền Trung (ĐHSP Huế và ĐHSP Đà Nẵng); việc mở rộng mẫu thực nghiệm trên toàn bộ các vùng miền địa lý khác nhau sẽ nâng cao tính khái quát hóa của mô hình.
  2. Độ trễ và tác động dài hạn (Longitudinal impact): Nghiên cứu mới dừng lại ở việc đo lường kĩ năng của SV trong môi trường đại học và thực tập sư phạm, chưa theo dõi đánh giá năng lực thực hành ĐGQT của SV sau khi tốt nghiệp và giảng dạy chính thức từ 1 đến 3 năm tại các trường phổ thông.
  3. Ứng dụng công nghệ số: Quy trình rèn luyện chủ yếu khai thác các công cụ truyền thống kết hợp phiếu đánh giá, chưa tích hợp sâu các hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI), hệ thống quản lý học tập (LMS) tự động hóa quá trình phân tích dữ liệu phản hồi thời gian thực.

Hướng nghiên cứu tiếp theo (Future Research Agenda):

  • Xây dựng mô hình số hóa (Digital Formative Assessment) ứng dụng công nghệ giáo dục (EdTech) trong rèn luyện kĩ năng phản hồi tức thời cho SV sư phạm.
  • Thiết lập nghiên cứu theo dõi dọc (Longitudinal study) nhằm thẩm định mức độ duy trì và thích ứng của kĩ năng ĐGQT trong môi trường lớp học phổ thông đa dạng.
  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu liên môn sang đào tạo giáo viên tích hợp môn Khoa học tự nhiên ở cấp THCS.

Tác động và ảnh hưởng

  • Giá trị học thuật: Công trình đóng góp hệ thống khái niệm, mô hình lý thuyết và bộ công cụ đo lường rubric chuẩn xác cho chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học Sinh học tại Việt Nam, mở ra tiềm năng trích dẫn cao trong các nghiên cứu về đánh giá giáo dục.
  • Tác động đến mạng lưới ĐHSP: Cung cấp khung chương trình chi tiết và học liệu thực hành mẫu giúp 05 trường ĐHSP trọng điểm cải tiến đề cương chi tiết học phần Kiểm tra đánh giá và Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên.
  • Thúc đẩy triển khai Chương trình GDPT 2018: Cung cấp cho thị trường lao động đội ngũ giáo viên Sinh học tương lai có tư duy đánh giá hiện đại, sẵn sàng chuyển đổi từ dạy học truyền thụ sang dạy học phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.
  • Hội nhập quốc tế: Tiếp cận và bản địa hóa thành công các chuẩn mực đánh giá quốc tế của OECD, PISA và các lý thuyết giáo dục hiện đại vào thực tiễn Việt Nam.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận một khung phương pháp luận nghiên cứu thực nghiệm sư phạm mẫu mực, có sự kết hợp chặt chẽ giữa thống kê toán học (SPSS, Paired Samples T-test) và đánh giá định tính chuyên sâu.
  • Giảng viên các trường ĐHSP: Sở hữu bộ tài liệu hướng dẫn, hệ thống bài tập tình huống sư phạm và phiếu hoạt động thực hành đã được kiểm chứng để giảng dạy các môn phương pháp.
  • Sinh viên sư phạm Sinh học: Được trang bị kĩ năng nghề nghiệp vững chắc, nâng cao năng lực phản xạ sư phạm, kỹ thuật đặt câu hỏi, thiết kế công cụ đo lường và đưa ra phản hồi nâng đỡ học sinh.
  • Cán bộ quản lý giáo dục và nhà hoạch định chính sách: Có cơ sở khoa học và bằng chứng thực nghiệm rõ ràng để chỉ đạo đổi mới kiểm tra đánh giá thường xuyên tại các trường THCS và THPT.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?

Luận án đã mở rộng mô hình 5 chiến lược ĐGQT của Wiliam & Thompson (2007) thành cấu trúc 4 kĩ năng thành phần mang tính thao tác hóa cao trong dạy học Sinh học, đồng thời tích hợp thang Dreyfus (2004) để lượng hóa đường phát triển kĩ năng sư phạm từ mức "Người mới" đến mức "Thành thạo".

2. Điểm mới về phương pháp nghiên cứu so với các công trình trước đây?

So với nghiên cứu của Sluijsmans (2002) hay Graham (2005) vốn chỉ dừng lại ở đánh giá nhận thức chung hoặc thiếu công cụ đo lường chuẩn hóa, luận án đã thiết kế bộ rubric đa chiều kết hợp với kiểm chứng thống kê T-test theo cặp trên SPSS 20, chứng minh sự sai khác có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$) qua từng giai đoạn can thiệp.

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực nghiệm là gì?

Khả năng đưa ra "TTPH cải thiện mạnh" (theo phân loại Nyquist) là kĩ năng khó hình thành nhất ở sinh viên nếu chỉ dạy lý thuyết đơn thuần, nhưng lại có tốc độ tiến bộ vượt bậc (đạt tỉ lệ $> 70%$) khi sinh viên được trải nghiệm mô hình vi mô kết hợp phiếu phân tích tình huống sư phạm.

4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập (Replication Protocol) không?

Có. Luận án mô tả chi tiết quy trình 4 giai đoạn, đính kèm hệ thống phiếu hoạt động rèn luyện mẫu (từ phiếu xác định mục tiêu đến phiếu thiết kế rubric) và tiêu chí thang đo cụ thể trong phụ lục, cho phép các cơ sở đào tạo khác hoàn toàn có thể tái lập quy trình nghiên cứu.

5. Lộ trình nghiên cứu 10 năm tới được định hình như thế nào?

Mở rộng từ ĐGQT truyền thống sang ĐGQT tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI-assisted formative assessment), nghiên cứu tác động xuyên suốt từ giảng đường đại học đến 5 năm đầu công tác của giáo viên tại các trường phổ thông trên toàn quốc.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hải Yến tạo lập những đóng góp khoa học và thực tiễn mang tính đột phá:

  1. Hệ thống hóa và làm sâu sắc cơ sở lý luận về ĐGQT và kĩ năng ĐGQT trong dạy học môn Sinh học theo định hướng phát triển năng lực.
  2. Xác lập chính xác cấu trúc KN ĐGQT gồm 4 kĩ năng thành phần và hệ thống các chỉ báo hành vi tương ứng.
  3. Xây dựng thang đo 5 mức độ phát triển kĩ năng dựa trên mô hình Dreyfus và bộ rubric đo lường chuẩn hóa có độ tin cậy cao.
  4. Thiết kế và vận dụng thành công quy trình rèn luyện 4 giai đoạn kết hợp hệ thống biện pháp hỗ trợ sư phạm chuyên sâu.
  5. Chứng minh thực nghiệm thuyết phục tính khả thi và hiệu quả vượt trội của quy trình can thiệp qua các kiểm định thống kê toán học nghiêm ngặt ($p < 0,05$).
  6. Mở ra hướng tiếp cận mới trong đổi mới chương trình đào tạo giáo viên tại các trường ĐHSP, đóng góp trực tiếp vào thành công của công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam.