CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Những vấn đề chung về dạy học phát triển kĩ năng ngôn ngữ cho học sinh lớp 2 1. Kĩ năng và kĩ năng ngôn ngữ 1. Kĩ năng Theo Từ điển Tiếng Việt: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [50] Kỹ năng ở đây được hiểu là khả năng thực hiện một công việc hoặc một hoạt động nào đó một cách có chất lượng và hiệu quả theo yêu cầu cụ thể, nhằm đạt mục đích xác định trong những điều kiện nhất định.
Từ điển Tâm lí học đã định nghĩa một cách khái quát: “Kĩ năng là giai đoạn nắm vững cách hành động dựa trên qui tác nào đó và hành động phù hợp với qui tắc ấy trong quá trình giải quyết nhiệm vụ đã xác định” [55]. Cho đến nay, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng. Những định nghĩa này thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của người viết. Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thành khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn.
Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó. Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng. Bất cứ một kỹ năng nào được hình thành nhanh hay chậm, bền vững hay lỏng lẻo đều phụ thuộc vào khát khao, quyết tâm, năng lực tiếp nhận của chủ thể, cách luyện tập, tính phức tạp của chính kỹ năng đó.Lêvitôv nhà tâm lý học Liên Xô cho rằng: Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định. Theo ông, người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện 11 hành động có kết quả.
Ông còn nói thêm, con người có kỹ năng không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải vận dụng vào thực tế. Theo tác giả Vũ Dũng thì: Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng [14]. Theo tác giả Thái Duy Tuyên thì: Mỗi kỹ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạt động. Điều đáng chú ý là sự thực hiện một kỹ năng luôn luôn được kiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kỳ một kỹ năng nào đều nhằm vào một mục đích nhất định [43].
Từ sự phân tích trên ta có thể hiểu kỹ năng một cách chung nhất: Kỹ năng là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra. Kĩ năng ngôn ngữ a. Ngôn ngữ theo cách hiểu thông thường. Người ta có thể sử dụng từ ngôn ngữ để chỉ một hệ thống kí hiệu bất kì dùng để diễn đạt, thông báo một nội dung nào đó.
Ví dụ: ngôn ngữ điện ảnh là toàn bộ những phương tiện nghệ thuật được các nhà làm phim sử dụng để phản ánh hiện thực; ngôn ngữ hội họa là toàn bộ những đường nét, màu sắc, hình khối mà họa sĩ sử dụng để phản ánh thế giới; ngôn ngữ của loài ong là toàn bộ những "vũ điệu" mà loài ong sử dụng để báo cho nhau về nơi chốn có hoa và lượng hoa. Ðôi khi người ta còn dùng từ ngôn ngữ để chỉ đặc điểm khái quát trong việc sử dụng ngôn ngữ của một tác giả, một tầng lớp hay một lứa tuổi hoặc một phong cách ngôn ngữ cụ thể. Ví dụ: ngôn ngữ Nguyễn Du, ngôn ngữ trẻ em, ngôn ngữ báo chí. Tuy nhiên, theo cách hiểu phổ biến và chủ yếu nhất, ngôn ngữ là hệ thống kí hiệu bao gồm hệ thống những âm, những từ và những quy tắc kết hợp 12 các từ mà những người trong cùng một cộng đồng sử dụng làm phương tiện để giao tiếp với nhau.
Thí dụ: tiếng Nga, tiếng Việt là hai ngôn ngữ khác nhau. Ngôn ngữ theo cách hiểu của Ferdinand de Saussure (1857-1913) Ngôn ngữ được hiểu như một thuật ngữ ngôn ngữ học. Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương xuất bản năm 1916 của Saussure đã quan niệm hoạt động ngôn ngữ gồm hai mặt: mặt ngôn ngữ và mặt lời nói. Theo ông, ngôn ngữ là một hợp thể gồm những quy ước tất yếu được tập thể xã hội chấp nhận,(.) Ðó là một kho tàng được thực tiễn nói năng của những người thuộc cùng một cộng đồng ngôn ngữ lưu lại, một hệ thống tín hiệu, một hệ thống ngữ pháp tồn tại dưới dạng tiềm năng trong mỗi bộ óc, hay, nói cho đúng hơn trong các bộ óc của một tập thể.
Những tín hiệu và quy tắc trừu tượng đó tồn tại ở cả mặt ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Hay nói khác đi, ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu tồn tại như một cái mã chung cho cả một cộng đồng ngôn ngữ dưới dạng tiềm năng để họ sử dụng chung trong nói năng. Còn lời nói là sự vận dụng và thể hiện cái mã chung đó vào hoàn cảnh nói năng cụ thể, do một con người cụ thể tiến hành. Như vậy, ngôn ngữ là phương tiện, là công cụ của giao tiếp.
Kỹ năng ngôn ngữ là cách thức của quá trình trao đổi thông tin (bao gồm cả tri thức, tình cảm, thái độ, ước muốn, hành động, .) bằng các hình thức khác nhau giữa các chủ thể giao tiếp (kể cả trường hợp một người giao tiếp với chính mình) diễn ra trong một ngữ cảnh và một tình huống nhất định, bằng một hệ thống tín hiệu nhất định. Các loại kỹ năng ngôn ngữ và mối quan hệ giữa các kỹ năng a) Các loại kỹ năng ngôn ngữ Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đưa ra những vấn đề về kỹ năng ngôn ngữ tiếng Việt. Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho HS. Năng lực ngôn ngữ được thể hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với đó là bốn kĩ năng nghe - nói - đọc - viết.
13 - Kỹ năng nghe Nghe: tốc độ nghe - tốc độ là tỷ số của âm, vần, tiếng HS phải nghe và thời gian nghe. Ngoài ra cần chú ý thêm các đặc điểm của văn bản (đề tài, thể loại, mức độ khó dễ về nội dung), đặc điểm của nguồn phát ra lời nói. Kỹ năng nghe chính xác âm thanh lời nói: muốn hiểu đúng lời nói, trước tiên cần phải nghe đúng rõ âm thanh của lời nói rồi tiến tới nhận biết và hiểu nội dung của từng câu, từng đoạn và cả bài, văn bản. Có hai loại tình huống nghe là nghe tương tác và nghe không tương tác.
Tình huống nghe tương tác bao gồm các hội thoại khi đối mặt hay gọi điện thoại. Trong tình huống này, hai bên thay nhau nói và nghe, người tham gia có cơ hội đề nghị người đối thoại làm rõ, nhắc lại hoặc nói chậm lại. Tình huống nghe không tương tác như nghe đài, ti vi, phim, bài giảng… Trong những tình huống đó, chúng ta thường không có cơ hội đề nghị người nói làm rõ, nói chậm lại hay nhắc lại. - Kỹ năng nói KNN đòi hỏi phải sử dụng các phương tiện ngôn ngữ (từ ngữ, câu, đoạn, ngữ điệu) và các phương tiện phụ trợ khác (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…).
Khi rèn luyện KNN cho HS, cần rèn luyện các dạng nói theo một đề tài, trả lời câu hỏi theo các thể văn khác nhau và tham gia vào đối thoại, thảo luận. KNN có thể chia thành ba kiểu tình huống nói: tương tác, tương tác cục bộ, không tương tác. Chính vì vậy, kỹ năng nói đòi hỏi phải sử dụng các phương tiện ngôn ngữ (từ ngữ, câu, đoạn, ngữ điệu) và các phương tiện phụ trợ khác (nét mặt, cử chỉ , điệu bộ. - Kỹ năng đọc Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm).
Đọc còn là hoạt động tiếp nhận thông tin bằng chữ viết, gồm hai hình thức đọc thành tiếng và đọc thầm. 14 Trình độ đọc của HS được quy định căn cứ vào các mặt quan hệ mật thiết dưới đây: Kỹ năng đọc thành tiếng, đọc thầm, khả năng thông hiểu văn bản đọc”. Tập đọc là một phân môn có ý nghĩa to lớn ở Tiểu học, nó trở thành đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học. Đầu tiên trẻ phải học đọc, sau đó trẻ đọc để học.
Đọc giúp trẻ chiếm lĩnh được một ngôn ngữ dùng trong giao tiếp và học tập, nó cũng là công cụ để học tập các môn học khác, nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập, đồng thời nó tạo điều kiện để HS có khả năng tự học và tinh thần học tập, tập đọc là một khả năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh. Biết đọc sẽ giúp các em biết nhiều hơn, hướng cho các em tới lòng yêu cái thiện, yêu cái đẹp. - Kỹ năng viết Viết theo nghĩa đơn giản là hành động đặt chữ, biểu tượng, số, từ, ý lên giấy theo quy luật, cấu trúc của ngôn ngữ (hoặc lên màn hình máy tính). Viết thường là để nhấn mạnh hoặc giải thích ý tưởng.
Một bài viết tốt là một bài viết rõ ràng, xúc tích, đúng ngữ pháp và cú pháp, đúng hình thức trình bày, người đọc có thể dễ dàng hiểu được đúng và chính xác ý tưởng, mục đích của người viết. Viết là một công cụ tốt để giao tiếp có hiệu quả, muốn rèn luyện kỹ năng viết tốt cần phải luyện tập. Viết giúp người gửi thông tin có thể xem xét tất cả các khía cạnh chi tiết của thông tin mà mình gửi dưới dạng văn bản chính xác. Viết làm người nhận thông tin có thể xem qua thông tin sau đó nghiên cứu nó chi tiết hơn, lưu lại thông tin lâu dài.
Viết là để truyền tải thông tin. Kỹ năng viết tốt mở ra nhiều cơ hội cho chúng ta trong công việc và thăng tiến (cơ hội cá nhân, cơ hội nhóm nơi bạn làm việc). b) Mối quan hệ giữa các kỹ năng “.