CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Những vấn đề chung về dạy học phát triển kĩ năng ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 1. Kĩ năng và kĩ năng ngôn ngữ 1. Một số khái niệm a) Kỹ năng Theo Từ điển Tiếng Việt: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [69].
Kỹ năng ở đây được hiểu là khả năng thực hiện một công việc hoặc một hoạt động nào đó một cách có chất lượng và hiệu quả theo yêu cầu cụ thể, nhằm đạt mục đích xác định trong những điều kiện nhất định. Từ điển Tâm lí học đã định nghĩa một cách khái quát: “Kĩ năng là giai đoạn nắm vững cách hành động dựa trên quy tắc nào đó và hành động phù hợp với quy tắc ấy trong quá trình giải quyết nhiệm vụ đã xác định” [70]. Tuy nhiên, cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về KN và đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về nó. Khái quát lại, có thể thấy có ba nhóm quan điểm chính như sau: Nhóm quan điểm thứ nhất coi KN là mặt kĩ thuật thao tác hành động hay hoạt động.
Đại diện cho quan niệm này là V.Petrovxki, Trần Trọng Thuỷ, Hà Nhật Thăng. Theo đó, KN là cách thức hoạt động dựa trên cơ sở tri thức và kỹ xảo. Kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập, KN tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong những điều kiện quen thuộc mà trong những điều kiện đã thay đổi. Như vậy, theo quan niệm này, KN là phương tiện thực hiện hành động mà con người đã nắm vững.
Người có KN hoạt động nào đó là người nắm được các tri thức về hoạt động đó và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu cần có mà không cần tính đến kết quả của hành động. Như vậy, nhóm quan điểm này chủ yếu nhấn mạnh đến mặt kĩ thuật của KN, coi KN 15 như là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động, chưa xem xét đến kết quả của hành động. Nhóm quan điểm thứ hai nhìn nhận xem xét KN nghiêng về mặt năng lực của con người. Đó là quan niệm của các tác giả N.Barry, KenKing, Trần Quốc Thành, Nguyễn Quang Uẩn, Lê Văn Hồng, Ngô Công Hoàn, Vũ Dũng.
Theo đó, KN là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hành động phức tạp hơn, bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định. Kỹ năng có liên quan nhiều đến thực tiễn, đến việc áp dụng tri thức vào thực tiễn. Như vậy, theo quan niệm này, KN không chỉ là kĩ thuật, thao tác thực hiện hoạt động mà còn là năng lực đem lại kết quả cho hoạt động. Đây là quan niệm tương đối toàn diện và khái quát về KN.
Tuy nhiên, các tác giả trên còn chưa thực sự quan tâm đến mặt thao tác, hành động của KN. Theo chúng tôi về thực chất hai luồng ý kiến trên không phủ định nhau, sự khác biệt chỉ là ở chỗ mở rộng hay thu hẹp thành phần cấu trúc của KN cũng như những đặc tính của chúng. Trên cơ sở hai cách tiếp cận trên, chúng tôi quan niệm: KN là sự thực hiện có hiệu quả một hành động bằng cách vận dụng những kiến thức, kỹ xảo để giải quyết nhiệm vụ mới một cách linh hoạt, sáng tạo. Quan niệm này không thiên về mặt kỹ thuật mà cũng không nặng về mặt năng lực, nó được xem xét trên cả hai phương diện.
Xem xét các nhóm quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy, để tiếp cận vấn đề KN, cần nắm được năm nội dung sau đây: Một là, nói tới KN là nói tới hành động có mục đích. Kỹ năng luôn gắn liền với những hành động cụ thể như: KN sư phạm, KN giao tiếp, KN dạy học. Không có KN chung chung, trừu tượng, tách khỏi hành động. Cấu trúc của KN phụ thuộc vào cấu trúc của hoạt động mà chủ thể đang thực hiện, chẳng hạn KN dạy học phụ thuộc vào cấu trúc tâm lý của hoạt động dạy, KN học tập phụ thuộc vào cấu trúc tâm lý hoạt động học.
Hai là, nghiên cứu khái niệm KN cần quan tâm ở hai khía 16 cạnh là mặt kỹ thuật của hành động, thao tác, kết quả của hành động và mặt năng lực của con người. Ba là, KN có hai cấp độ: KN bậc thấp và KN bậc cao. Ở cấp độ KN bậc thấp, công việc hoàn thành trong hoàn cảnh thông thường, điều kiện không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục và còn phải tập trung chú ý. Ở cấp độ KN bậc cao, công việc được tiến hành một cách thành thạo, linh hoạt, sáng tạo phù hợp với mục tiêu, yêu cầu trong các điều kiện, hoàn cảnh biến đổi phức tạp và đạt hiệu quả cao.
Bốn là, KN không phải là bẩm sinh của mỗi cá nhân, KN là sản phẩm của hoạt động thực tiễn. Đó là quá trình con người vận dụng những kiến thức, kỹ xảo vào hoạt động thực tiễn để đạt được mục đích đã đề ra. Năm là, để đánh giá một cá nhân có KN, cần phải dựa vào những tiêu chuẩn như: cá nhân đó hiểu biết về mục đích của hành động cũng như các điều kiện, phương tiện triển khai hành động đó; hành động diễn ra đúng đắn và thành thạo trong thực tiễn; KN đó diễn ra trong các tình huống khác nhau, thời gian ngắn nhưng kết quả cao. Một hành động diễn ra còn nhiều sai sót, tốn nhiều thời gian, năng lượng thần kinh, cơ bắp thì chưa thể gọi là hành động có KN.
Như vậy, có thể định nghĩa một cách khái quát về KN như sau:“Kỹ năng là khả năng của con người thực hiện có kết quả một công việc để đạt được mục đích đã xác định bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức hành động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và phương tiện nhất định”. b) Kỹ năng ngôn ngữ Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, nó chỉ sinh ra và phát triển trong xã hội loài người, do ý muốn và nhu cầu giao tiếp với nhau trong quá trình sống và tồn tại, phát triển. Ngôn ngữ là tập hợp của những vật liệu, phương tiện của những quy tắc tổ chức kết hợp các loại vật liệu đó để biểu đạt những nội dung ý nghĩa nhất định, tạo nên một hệ thống tín hiệu hay ký hiệu dùng làm công cụ giao tiếp giữa người với người trong một xã hội nhất định. Trong tất cả các phương tiện mà con người sử dụng để giao tiếp thì ngôn ngữ là phương tiện duy nhất thoả mãn được nhu cầu của con người.
“Ngôn ngữ là công cụ để tư 17 duy, tư duy là hiện thực trực tiếp của ngôn ngữ” [2, tr. “Ngôn ngữ không chỉ có chức năng làm phương tiện tư duy mà còn là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người” [54, tr. Như vậy, từ các khái niệm về ngôn ngữ, có thể hiểu KN ngôn ngữ là khả năng của một người có thể lựa chọn hệ thống những âm, những từ và những quy tắc kết hợp chúng để làm phương tiện giao tiếp với nhau. Các loại kỹ năng ngôn ngữ và mối quan hệ giữa các kỹ năng a) Các loại kỹ năng ngôn ngữ Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đưa ra những vấn đề về KN ngôn ngữ tiếng Việt.
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho HS. Năng lực ngôn ngữ của HS được thể hiện chủ yếu ở bốn dạng hoạt động, tương ứng với đó là bốn KN: nghe, nói, đọc, viết. - Kỹ năng nghe Việc nghe được chia thành hai loại: “nghe trong hội thoại (mang tính chủ động, vùa được nghe, vừa được nói) và nghe đơn thoại (mang tính bị động, chỉ được nghe)” [49, tr. Nghe trong hội thoại và nghe trong đơn thoại có những điểm tương đồng, như phụ thuộc vào chất lượng âm thanh, tiếng ồn, độ chú ý hay phân tán của người nghe.
Tuy nhiên nghe trong hội thoại và nghe trong đơn thoại còn có những điểm khác biệt sau: + Nghe trong hội thoại: Là hoạt động nghe với sự hiện diện trực tiếp của những người tham gia hội thoại trong điểm không gian hẹp. Sự chuyển đổi từ vai nghe sang vai nói và ngược lại từ nói sang nghe không diễn ra thường xuyên. Việc nghe trong hội thoại không cần ghi chép vì người nghe cũng là người xây dựng nội dung giao tiếp, và hơn nữa những nội dung này đa dạng, phong phú, nhiều khi tản mạn nên khó có thể ghi chép được. + Nghe trong đơn thoại: Nghe trong đơn thoại là hoạt động nghe thường gặp trên lớp, trong hội trường, hoặc những nơi công cộng khác.
Nghe 18 trong đơn thoại, không có sự chuyển đổi vai như trong hội thoại. Nội dung của đơn thoại do người nói quy định, người nghe không tham dự trực tiếp vào việc xác lập nội dung nói. - Kỹ năng nói Ngôn ngữ nói là phương tiện để mã hoá các thông tin (những suy nghĩ, tri thức…) trong đầu con người (GV dạy học, người học hoạt động chẳng hạn) khi chuyển tải ra ngoài bằng lời (giao tiếp, truyền đạt). Trong dạy học, những thông tin từ GV sẽ giúp cho HS hiểu đúng ý tưởng của GV, nội dung khoa học, thực hiện chính xác các yêu cầu của GV, lưu trữ các thông tin từ GV, giao tiếp giữa người học với nhau.
Ngoài tính chính xác về từ ngữ, ngôn ngữ nói của GV còn cần đạt đến tính nghệ thuật về mặt ngữ âm, cấu trúc câu sao cho lời nói được biểu đạt ngắn gọn, trong sáng, súc tích, giàu hình ảnh (kể cả tình cảm), dễ hiểu và mang tính thuyết phục cao. Sử dụng đúng và phù hợp các tính chất vật lí của lời nói như cường độ, cao độ, tốc độ nói cũng là một nghệ thuật nói. Kỹ năng nói chính là nói đúng về mặt ngữ âm, sử dụng từ đúng nghĩa, đặt câu đúng, sử dụng câu phù hợp với bối cảnh giao tiếp. Kỹ năng nói có thể chia thành ba kiểu tình huống nói: tương tác, tương tác cục bộ, không tương tác.
“Kỹ năng nói đòi hỏi phải sử dụng các phương tiện ngôn ngữ (từ ngữ, câu, đoạn, ngữ điệu) và các phương tiện phụ trợ khác (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…). Khi rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh, cần rèn luyện các dạng nói theo một đề tài, trả lời câu hỏi theo các thể văn khác nhau và tham gia vào đối thoại, thảo luận” [2, tr.