Phần mở đầu. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của viện thu hút nhân lực trình độ cao tham gia vào quá trình đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Chính sách KH&CN tại Viện CLCS KH&CN. Chƣơng 2: Hiện trạng thu hút nhân lực trình độ cao vào quá trình đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Chính sách KH&CN tại Viện CLCS KH&CN. Chƣơng 3: Giải pháp về tài chính, công tác tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả của việc thu hút nhân lực trình độ cao tham gia vào quá trình đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Chính sách KH&CN tại Viện CLCS KH&CN.
Kết luận và khuyến nghị. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THU HÚT NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ CAO THAM GIA VÀO QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆN CHIẾN LƢỢC VÀ CHÍNH SÁCH KH&CN 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Khái niệm Nhân lực Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực xã hội là lực lƣợng lao động (human labor), những năng lực về thể chất và trí tuệ để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ cho kinh doanh hay còn có cách định nghĩa khác, là toàn bộ số lƣợng ngƣời có thể làm việc khi cần thiết.
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng (lao động) của con ngƣời của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phƣơng đã đƣợc chuẩn bị ở mức độ nào đó có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc (hoặc một vùng, một địa phƣơng cụ thể). Với cách tiếp cận này, nguồn nhân lực nhƣ một bộ phận cấu thành các nguồn lực của quốc gia nhƣ nguồn lực vật chất (trừ con ngƣời), nguồn lực tài chính, nguồn lực trí tuệ (chất xám)… Những nguồn lực này có thể đƣợc huy động một cách tối ƣu để phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực của xã hội thể hiện tiềm năng của một quốc gia về con ngƣời, kể cả những ngƣời hiện tại chƣa có việc làm, thất nghiệp và trẻ em trong các trƣờng học. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguồn nhân lực của tổ chức là một bộ phận cấu thành nguồn nhân lực xã hội, bao gồm tất cả những ai làm việc cho tổ chức hoặc những ngƣời chờ đợi để làm việc cho tổ chức (nguồn dự trữ).
Nguồn nhân lực của mỗi tổ chức có những đòi hỏi, yêu cầu riêng tùy theo chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc của tổ chức đó. Đây chính là lý do vì sao mỗi tổ chức phải có chiến lƣợc, kế hoạch phát triển, tạo nguồn nhân lực cho chính mình một cách hợp lý. Mặt khác, khi nguồn nhân lực xã hội có thể đáp ứng đƣợc yêu cầu của tổ chức, thì tổ chức có thể sử dụng chúng. Cạnh tranh để có đƣợc nguồn nhân lực xã hội phù hợp với yêu cầu của tổ chức là xu thế chung của thế giới trong nhiều năm qua và tiếp tục thúc đẩy cạnh tranh trong thời gian tới, dƣới nhiều dạng khác nhau nhƣ: cạnh tranh nhân tài, cạnh tranh lao động có tay nghề cao, cạnh tranh lao động có chi phí rẻ,…([3], tr 1).
Nhân lực khoa học và công nghệ Khái niệm nhân lực khoa học và công nghệ Theo nghĩa rộng, nhân lực khoa học và công nghệ bao gồm những ngƣời sở hữu trí thức, những ngƣời này tham gia trực tiếp trong việc nghiên cứu và phát triển khoa học cơ bản, công nghệ ứng dụng. Hàm lƣợng trí thức tích lũy trong nhân lực KH&CN có thể đƣợc thông qua đào tạo chính thức hoặc thông qua tích lũy kinh nghiệm và các công việc liên quan đến đổi mới. Có 2 cách tiếp cận phổ biến về nhân lực khoa học và công nghệ: Thứ nhất, nhân lực KH&CN đƣợc mô tả trong cuốn sổ tay của OECD năm 1995 với tên gọi “OECD’s Canberra Manual” và đã đƣợc sử dụng phổ biến trong các quốc gia cũng nhƣ các tài liệu nghiên cứu. Theo đó, nhân lực KH&CN gồm những ngƣời đáp ứng đƣợc một trong những điều kiện sau đây (OECD, 1995: 49): - Đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng về một lĩnh vực KH&CN; 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tuy chƣa đạt đƣợc điều kiện nêu trên, nhƣng làm việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi phải có trình độ tƣơng đƣơng.
Thứ hai, theo UNECO thì nhân lực KH&CN đƣợc xác định nhƣ “…tổng số những ngƣời tham gia trực tiếp vào hoạt động KH&CN và các dịch vụ KH&CN trong một tổ chức hoặc một đơn vị. Nhóm này gồm cả những nhà khoa học và kỹ sƣ, kỹ thuật viên và nhân lực hỗ trợ …”. Theo quan điểm của Bộ Khoa học và Công nghệ có 05 lực lƣợng làm khoa học và công nghệ: - Nhân lực KH&CN làm quản lý KH&CN. - Nhân lực KH&CN làm việc trong các tổ chức KH&CN: các viện nghiên cứu, trƣờng đại học, trung tâm nghiên cứu KH&CN.
- Nhân lực KH&CN tại các doanh nghiệp. - Nhân lực KH&CN trong xã hội: là những ngƣời dân có sáng kiến cải tiến, có lòng yêu KH&CN và tìm các biện pháp áp dụng khoa học và kỹ thuật vào đời sống. - Nhân lực KH&CN là ngƣời Việt Nam đang công tác, sinh sống tại nƣớc ngoài. Thuật ngữ “nhân lực KH&CN” hàm chỉ đội ngũ lao động có trình độ tay nghề trở lên.
Thuật ngữ này đôi khi tƣơng đồng với thuật ngữ nhân lực KH&CN (scientific and technological manpower hay personnel). Tuy nhiên, có trƣờng hợp quan niệm không tƣơng đồng bởi có ngƣời quan niệm nhân lực KH&CN bao gồm đội ngũ có tay nghề hay trình độ đang hoạt động trong nền kinh tế. Còn nguồn nhân lực KH&CN thì còn có thêm lực lƣợng tiềm năng về tay nghề/trình độ (UNESCO). Trong khi đó, OECD coi nguồn nhân lực KH&CN tƣơng đồng với nhân lực KH&CN và bao gồm cả lực lƣợng hiện đang hoạt động cũng nhƣ ở dạng tiềm năng.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Theo UNESCO, nhân lực KH&CN là “những người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ…”. Hoạt động KH&CN, theo UNESCO, là những hoạt động có tính chất hệ thống và liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra, phát triển, phổ biến, áp dụng kiến thức KH&CN trong mọi lĩnh vực KH&CN. Hoạt động KH&CN bao gồm hoạt động nghiên cứu triển khai, giáo dục và đào tạo KH&CN và các dịch vụ KH&CN. Dịch vụ KH&CN bao gồm các hoạt động KH&CN của thƣ viện và bảo tàng, dịch và hiệu đính tài liệu KH&CN; điều tra, thăm dò, thu thập số liệu về các hiện tƣợng kinh tế xã hội; tiêu chuẩn, chất lƣợng, dịch vụ tƣ vấn và lấy ý kiến khách hàng, các hoạt động patent và bản quyền của các cơ quan công cộng.
Khái niệm về nhân lực KH&CN của UNESCO không bao hàm đội ngũ KH&CN dạng tiềm năng. Vì vậy, ngoài nhân lực KH&CN theo định nghĩa trên, UNESCO còn thu thập hai nhóm số liệu khác, đó là “các kỹ sư và nhà khoa học tiềm năng” và “các kỹ thuật viên tiềm năng” là những ngƣời nằm trong tổng vốn nhân lực hay những ngƣời thuộc lực lƣợng hoạt động kinh tế có bằng cấp của nhà khoa học/kỹ sƣ/kỹ thuật viên. UNESCO định nghĩa nhân lực KH&CN không theo bằng cấp mà theo công việc hiện đang đảm nhận. OECD đƣa ra định nghĩa về nhân lực dựa trên trình độ và công việc.
Theo OECD, nhân lực KH&CN bao gồm những ngƣời đáp ứng đƣợc một trong các điều kiện sau: Đã tốt nghiệp trƣờng đào tạo trình độ nhất định nào đó về một chuyên môn KH&CN (từ công nhân có bằng cấp tay nghề trở lên hay còn đƣợc gọi là trình độ 3 – giáo dục phổ thông bậc cao, trong hệ giáo dục đào tạo). 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Không đƣợc đào tạo chính thức nhƣ đã nói ở trên nhƣng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CN mà đòi hỏi trình độ trên. Kỹ năng tay nghề ở đây đƣợc đào tạo tại nơi làm việc. Nhƣ vậy, theo OECD, nhân lực KH&CN là sự tổng hợp cả 2 tiêu chí bao gồm: - Những ngƣời có bằng trình độ tay nghề trở lên và làm việc trong lĩnh vực KH&CN; - Những ngƣời có bằng trình độ tay nghề trở lên và không làm việc trong lĩnh vực KH&CN; - Những ngƣời đƣợc coi là có trình độ tay nghề làm việc trong lĩnh vực KH&CN nhƣng không có bằng cấp… Ngoài ra, còn có những ngƣời làm việc trong lĩnh vực KH&CN với trình độ kỹ năng thấp, không ở mức ngang bằng với những ngƣời có trình độ tay nghề cũng đƣợc tính vào nguồn nhân lực KH&CN.
Nhƣ vậy, theo cách định nghĩa này, tất cả những ai có bằng cấp nghề nghiệp trở lên bất kể họ có sử dụng kiến thức đã học vào nghề của mình hay không, hay kiến thức của họ có đƣợc bổ túc sau một thời gian dài hay không đều đƣợc coi là nguồn nhân lực KH&CN. Nhân lực KH&CN ở đây đƣợc hiểu theo nghĩa rất rộng, nó đề cập đến toàn bộ đội ngũ tiềm tàng/tiềm năng chứ không chỉ đội ngũ hay vốn nhân lực KH&CN đang tham gia hoạt động KH&CN. So với định nghĩa của OECD, định nghĩa của UNESCO có chỗ rộng hơn nhƣng lại có chỗ hẹp hơn. UNESCO đƣa ra định nghĩa chỉ dựa vào hoạt động hiện tại để xác định nhân lực KH&CN mà không dựa vào trình độ, trong khi đó OECD đƣa ra định nghĩa dựa trên cả hai.
Điểm rộng hơn trong định nghĩa của UNESCO là ở chỗ nhân lực KH&CN còn bao hàm cả đội ngũ nhân 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lực phù trợ, trong khi OECD không tính bộ phận này là nhân lực KH&CN, trừ trƣờng hợp họ có bằng cấp. Còn điểm hẹp hơn là ở chỗ, UNESCO không tính những ngƣời có bằng cấp mà không hoạt động trong lĩnh vực KH&CN vào nhân lực KH&CN ([3], tr 2, tr 3, tr 7). Tuy nhiên, trên thực tế, khi thống kê nhân lực KH&CN, chúng ta chƣa làm đƣợc việc thống kê theo nghề nghiệp mà mới thống kê theo trình độ đào tạo. Việc đƣa ra định nghĩa về nhân lực KH&CN phải xuất phát từ: - Mục tiêu của việc sử dụng định nghĩa này (để ra chính sách hay để thống kê, để lấy số liệu tính toán cầu và cung nhân lực…); - Khả năng thu thập đƣợc số liệu về chúng; - Tính so sánh quốc tế.
Vì vậy, sử dụng định nghĩa của OECD về nhân lực KH&CN để áp dụng trong điều kiện của nƣớc ta là phù hợp với các mục tiêu liệt kê trên đây.