CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1. Tổng quan về rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế 1. Khái niệm Thuật ngữ “rào cản” trong kinh tế được hiểu là những công cụ, biện pháp, chính sách bảo hộ của một quốc gia nhằm hạn chế những tác động tiêu cực ảnh hưởng tới nền kinh tế của quốc gia đó. Theo định nghĩa này, ta có thể hiểu “rào cản trong thương mại quốc tế” là những công cụ, biện pháp, chính sách bảo hộ của một quốc gia nhằm hạn chế những tác động tiêu cực ảnh hưởng tới hoạt động thương mại quốc tế của quốc gia đó nói riêng và tới nền kinh tế nói chung.
Rào cản thương mại quốc tế được chia làm hai loại đó là: hàng rào thuế quan (là một loại thuế đánh vào hàng mậu dịch, phi mậu dịch khi hàng hóa đi qua khu vực hải quan của một nước) và phi thuế quan (là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối với thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học hoặc bình đẳng). Rào cản kỹ thuật là một trong những công cụ trong hệ thống hàng rào phi thuế quan Trong thương mại quốc tế, các “rào cản kỹ thuật đối với thương mại” (technical barriers to trade) thực chất là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một nước áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu và/hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp của hàng hoá nhập khẩu đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó (được gọi chung là các biện pháp kỹ thuật - biện pháp TBT). (VCCI - Phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt Nam) Hoàng Thị Thu Hiền (2014) cho rằng: Hàng rào kỹ thuật đề cập tới các tiêu chuẩn của hàng hoá mà mỗi quốc gia quy định một cách khác nhau. Các tiêu chuẩn này có thể bao gồm các thông số, đặc điểm cho mỗi loại hàng hoá do các cơ quan chính quyền hoặc các tổ chức tư nhân đặt ra.
Mặc dù tuân thủ theo các thông số kỹ thuật này có thể không phải là bắt buộc nhưng những ai không tuân thủ thì thị trường tẩy chay. Các tiêu chuẩn kỹ thuật đòi hỏi các sản phẩm phải đạt được những yêu cầu nhất định trước khi được đưa ra thị trường. Các thông số kỹ thuật có thể Luan van 8 đóng vai trò như các rào cản thương mại, đặc biệt khi nó được quy định khác nhau giữa các nước. Nguyễn Thị Thùy (2010) định nghĩa “Hàng rào kỹ thuật trong thương mại thực chất là những biện pháp kỹ thuật cần thiết để bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ người tiêu dùng và là công cụ trực tiếp bảo hộ sản xuất trong nước.
Đây cũng là rào cản hợp lý hạn chế nhập khẩu những hàng hóa không đạt tiêu chuẩn ảnh hưởng xấu tới môi trường, sức khỏe con người, động thực vật…” Tóm lại, rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế là một loại hàng rào phi thuế quan, được xem là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để ngăn chặn hàng xuất khẩu. Hàng rào này liên quan tới việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật như tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa phải an toàn, vệ sinh, bảo vệ môi trường… chúng là các rào cản hợp lý và hợp pháp cần được duy trì. Rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế rất đa dạng và phức tạp, được bảo hộ bởi luật pháp quốc tế cũng như luật pháp của từng quốc gia, tại các quốc gia khác nhau thì các quy định này được sử dụng khác nhau. Rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế là những biện pháp kỹ thuật cần thiết để bảo vệ người tiêu dùng trong nước, lợi ích quốc gia, bảo hộ sản xuất trong nước song có thể gây trở ngại cho thương mại quốc tế do việc đưa ra những quy định quá mức cần thiết hoặc không phù hợp.
Sự hình thành của rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế Trong nhiều năm gần đây, ngày càng có nhiều quốc gia áp dụng các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật trong hoạt động thương mại quốc tế. Điều đó có tác dụng to lớn trong bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng về sự an toàn trong sử dụng, tiêu thụ sản phẩm thông qua chất lượng tiêu dùng được đảm bảo. Xuất phát từ nhu cầu to lớn này các quốc gia đã và đang tăng cường xây dựng, thực hiện các chính sách về tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng trong hoạt động thương mại quốc tế. Khi một quốc gia muốn xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài.
Ngoài việc phải đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật về chất lượng sản phẩm trong nước cần phải tuân thủ các quy định này ở nước nhập khẩu – đây chính là nhân tố quyết định sản phẩm có được nhập khẩu vào nước đó hay không. Luan van 9 Để giải quyết các vấn đề không tương đồng trong các quy định về kỹ thuật giữa các quốc gia là cơ sở để hình thành quy định về rào cản kỹ thuật thương mại. Các điều khoản của GATT 1947 chỉ quy định chung về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật tại các Điều III, XI và XX. Một nhóm công tác của GATT được thành lập để đánh giá tác động của các rào cản phi thuế quan đối với thương mại quốc tế, đã kết luận rằng rào cản kỹ thuật là nhóm rào cản lớn nhất trong các biện pháp phi thuế quan mà các nhà xuất khẩu phải đối mặt.
Sau nhiều năm đàm phán, cuối Vòng đàm phán Tokyo vào năm 1979, 32 quốc gia thành viên GATT đã ký kết Hiệp định về Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT). Quy chế Tiêu chuẩn, tên gọi trước đây của Hiệp định TBT, quy định các quy tắc về xây dựng, chấp nhận và áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn và quy trình đánh giá sự phù hợp. Hiệp định mới của WTO về Hàng rào kỹ thuật trong thương mại, hay là Hiệp định TBT, đã nâng cấp và làm rõ hơn các quy định trong Quy chế Tiêu chuẩn của Vòng đàm phán Uruguay. Hiệp định TBT được đàm phán trong Vòng đàm phán Uruguay là một phần không thể tách rời của hệ thống Hiệp định WTO.
Đến năm 1994, Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới WTO đã hợp nhất Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại là một trong số 29 văn bản pháp lý nằm trong Hiệp định WTO, quy định nghĩa vụ của các thành viên nhằm đảm bảo rằng các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn, thủ tục đánh giá sự phù hợp thủ tục đánh giá sự phù hợp không tạo ra những cản trở không cần thiết đối với thương mại. Mặc dù rất khó để có một đánh giá chính xác về tác động của sự cần thiết phải tuân thủ các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật nước ngoài khác nhau đối với thương mại quốc tế, nhưng rõ ràng là các nhà sản xuất và xuất khẩu đã phải dành một khoản chi phí đáng kể cho vấn đề này. Các điều khoản cơ bản của Hiệp định này có thể được chia thành bốn nghĩa vụ đôi khi tương tác với nhau. Các nhóm nghĩa vụ này bao gồm: - Đối xử với hàng hoá xuất khẩu của một nước không kém ưu đãi hơn so với cơ chế đối xử đối với hàng hoá sản xuất trong nước (đối xử quốc gia) hoặc đối với hàng xuất khẩu của một nước khác (đối xử tối huệ quốc); Luan van 10 - Khuyến khích các thành viên dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế đó hài hoà; - Minh bạch trong quá trình xây dựng, áp dụng và thực hiện các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; - Các yêu cầu về thủ tục liên quan tới việc thông báo cho WTO các vấn đề có liên quan tới TBT.
Hiệp định TBT giải quyết các vấn đề đặc trưng sau: - Quy định về các thiết bị điện - Quy định về điện thoại không dây, thiết bị vô tuyến, v. - Ghi nhãn trong dệt may và quần áo - Thử nghiệm xe cộ và phụ kiện - Quy định về tàu thuyền và các thiết bị tàu thuyền - Quy định an toàn cho đồ chơi - Ghi nhãn thực phẩm, đồ uống và dược phẩm - Các yêu cầu về chất lượng đối với thực phẩm tươi sống - Các yêu cầu về đóng gói đối với thực phẩm tươi sống - Đóng gói và ghi nhãn đối với chất độc và hóa chất nguy hiểm Tóm lại, có thể hiểu sự hình thành của rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế là xuất phát từ chính nhu cầu hội nhập và giao lưu quốc tế, và xuất phát từ tính tất yếu của quá trình toàn cầu hóa, quá trình phát triển song phương giữa các quốc gia với nhau. Mục đích sử dụng rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế Đối xử công bằng đối với sản phẩm trong nước và quốc tế: Trong những năm gần đây, nhiều tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật được các nước chấp nhận đã tăng lên đáng kể. Chính sách tăng cường quản lý có thể được xem như là kết quả của mức sống cao hơn trên toàn cầu đã thúc đẩy nhu cầu của người tiêu dùng mong muốn có những sản phẩm chất lượng cao và an toàn, và việc gia tăng về ô nhiễm nguồn nước, không khí và đất đã thúc đẩy các xã hội hiện đại tăng cuờng sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường.
Luan van 11 Đôi khi các nước muốn bảo vệ nền sản xuất trong nước song lại yêu cầu các nước khác phải tự do thương mại cho hàng xuất khẩu của mình. Hiệp định TBT hướng tới việc ngăn chặn những hoạt động dạng này trên cơ sở các quy tắc sau. Các quy tắc cơ bản: - Đối xử công bằng với sản phẩm trong nước và quốc tế - Quy chuẩn không được tạo ra các cản trở không cần thiết cho thương mại. - Cấm nhập khẩu các hàng hóa mà không có bằng chứng khoa học.
Các thành viên phải đảm bảo rằng các quy chuẩn kỹ thuật chỉ được áp dụng ở mức độ để bảo vệ con người, động vật, thực vật hoặc sức khoẻ trên cơ sở các nguyên tắc khoa học. - Cấm nhập khẩu đối với hàng hoá được sản xuất theo một quy trình nhất định. Các thành viên phải xây dựng các quy chuẩn kỹ thuật dựa trên các yêu cầu công dụng của sản phẩm mà không dựa trên các đặc tính thiết kế hay mô tả. - Cấm nhập khẩu hàng hoá dựa trên các tiêu chuẩn không có ý nghĩa về mặt kỹ thuật khi các quy chuẩn kỹ thuật yêu cầu và các tiêu chuẩn quốc tế tồn tại thì các thành viên sẽ sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế.
- Cấm nhập khẩu bằng quy định về bao gói/ghi nhãn.