Chương 1. Cơ sở lý luận trong lĩnh vực hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ. Thực trạng hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ của lực lượng Công an nhân dân. Rào cản đối với hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ của lực lượng Công an nhân dân.
CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG LĨNH VỰC HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khoa học và Công nghệ a. Khoa học Khái niệm về khoa học được hình thành cùng với lịch sử phát triển của loài người.
Do khoa học luôn là yếu tố tác động mạnh mẽ tới sản xuất và đời sống xã hội và thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực hoạt động như sản xuất, chiến đấu hay các lĩnh vực xã hội khác, nên khoa học cũng được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Từ mỗi góc độ hoạt động xã hội người ta lại hiểu và quan niệm về khoa học theo những gì mà khoa học tác động đến họ, mang lại cho họ. Từ điển Bách khoa toàn thư Liên Xô (1986) “Khoa học là lĩnh vực hoạt động của con người, có chức năng xử lý và hệ thống hóa về mặt lý thuyết các tri thức khách quan”; Từ điển Pháp Larousse (2002) “ Khoa học là một tập hợp tri thức đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm về các sự kiện, sự vật và hiện tượng theo một quy luật xác định”; Khoa học là “hệ thống tri thức về mọi quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy”. Theo Vũ Cao Đàm (2012) “Định nghĩa này được UNESCO (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc) sử dụng trong các văn kiện chính thức và cũng được thừa nhận chung trong giới nghiên cứu thế giới”; Luật Khoa học và Công nghệ (Quốc hội Việt Nam, 2013) “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy”.
- Khoa học là một hệ thống tri thức Hệ thống tri thức ở đây bao gồm tri thức kinh nghiệm (tiên nghiệm) và tri thức khoa học. Tri thức kinh nghiệm được hình thành và có được từ những kinh nghiệm sống rút ra trong hoạt động hàng ngày, trong sản xuất, chiến đấu, đấu tranh sinh tồn của loài người nhằm từng bước hiểu thế giới và làm chủ chính bản thân mình. Tri thức kinh nghiệm tuy rất quan trọng nhưng thiếu cơ sở khoa học để lưu truyền, phát triển tiếp. 15 Tri thức khoa học là tri thức có được do tổng kết trên cơ sở tập hợp các số liệu và sự kiện ngẫu nhiên, rời rạc để khái quát hoá thành cơ sở lý thuyết về các liên hệ bản chất; từ những tri thức kinh nghiệm thông qua tư duy lôgíc để rút ra thành các quy luật: Quy luật về cấu trúc, về động thái và về sự tương tác giữa các sự vật hiện tượng.
Tri thức khoa học còn được hình thành do được tích luỹ một cách hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, là loại hoạt động được vạch sẵn theo một mục tiêu xác định (khám phá, sáng tạo) và được tiến hành dựa trên những ph- ương pháp khoa học. Tri thức khoa học là “hệ thống tri thức” mang tính quy luật. Vai trò nhiệm vụ của nó bao gồm cả hai chức năng nhận thức và cải tạo thế giới. Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các bộ môn khoa học, chẳng hạn như Triết học, Sử học, Kinh tế học, Toán học, Xã hội học, Vật lý học, Hoá học, Sinh học.
Các giai đoạn phát triển của tri thức khoa học: Khoa học phát triển từ những phương hướng nghiên cứu trường phái, từ đó có thể hình thành một bộ môn hoặc một ngành khoa học. - Khoa học là một hình thái ý thức xã hội Hình thái ý thức xã hội là một phạm trù triết học dùng để chỉ ý thức hệ chính trị, tôn giáo, đạo đức, khoa học và ý thức pháp quyền. Theo quan điểm triết học Mác, khoa học được hiểu là một hình thái ý thức xã hội. Hình thái ý thức khoa học tồn tại mang tính độc lập tương đối với các hình thái ý thức xã hội khác và được phân biệt về đối tượng, hình thức phản ánh và mang một chức năng xã hội riêng.
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học tương tác với các hình thái ý thức xã hội khác và trong mối tương tác này, hình thái ý thức khoa học luôn đóng vai trò thúc đẩy sự thay đổi, tiến bộ của các hình thái ý thức xã hội khác. Nhận thức này có ý nghĩa quan trọng về phương pháp luận nghiên cứu khoa học trong việc xử lý mối quan hệ phức tạp giữa khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác. - Khoa học là một thiết chế xã hội Khoa học là một thiết chế xã hội vì nó là một lĩnh vực “xã hội chuyên môn hoá cao” và tồn tại cùng các thiết chế khác có trong lịch sử. Thiết chế khoa học: Môi trường pháp lý của nó là do Nhà nước cụ thể tạo nên bằng các chính sách, pháp 16 luật, pháp lệnh, nghị định.“Khoa học chi phối hàng loạt quyết định trong đời sống kinh tế và xã hội, từ những quyết định của một hãng đến các quyết định chiến lược của các quốc gia và các liên minh đa quốc gia, xuyên quốc gia và siêu quốc gia.
Với tư cách là một thiết chế xã hội, khoa học đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội và thực hiện những chức năng của một thiết chế xã hội”. 1 Nhận định của nhà nghiên cứu lịch sử khoa học người Mỹ, Price đã được thực tế lịch sử chứng minh là đúng “Khoa học có thể sẽ là một thiết chế xã hội có ý nghĩa nhất trong xã hội hiện đại. Thiết chế ấy đang làm biến đổi đời sống và số phận con người trên thế giới này hơn bất kỳ một sự kiện chính trị hoặc tôn giáo nào”.2 - Khoa học được hiểu là một hoạt động xã hội Khoa học là một hoạt động xã hội nhằm mục đích phát hiện bản chất các sự vật, phát triển nhận thức về thế giới khách quan; sáng tạo các sự vật mới, phát triển các phương tiện cải tạo thế giới khách quan. Khoa học ngày nay đã trở thành một hoạt động nghề nghiệp của một cộng đồng xã hội.
Đó là một dạng lao động xã hội đặc biệt, với một đặc điểm khó tìm trong các hoạt động xã hội khác. Đó là việc tìm kiếm những điều chưa biết và phải chịu nhiều rủi ro trong quá trình tìm kiếm. Với tư cách là một hoạt động nghề nghiệp đặc thù, lĩnh vực hoạt động này có chức năng là tìm kiếm những tri thức mới và đem các tri thức đó phục vụ xã hội, đồng thời để thực hiện chức năng này xã hội đã tổ chức ra một hệ thống các tổ chức từ trung ương đến cơ sở và những tập thể, các cá nhân thực hiện các chức năng đó. Tuy khoa học có thể được hiểu dưới các góc độ khác nhau, nhưng trong lĩnh vực quản lý KH&CN, thì dùng khái niệm “khoa học là hệ thống tri thức về bản chất của các hiện tượng, sự vật tự nhiên, các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy” đã nêu trên là thích hợp.
Công nghệ Theo F.Root “Công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới”.Jones cho rằng “Công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển hóa thành hàng hóa”. 1 Vũ Cao Đàm (2012), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam., The Nature of Science. pp 1-28 in supplement to Biology, by Goldsby. New York: Harper & Row.
17 Bách khoa toàn thư Wikipedia đưa ra khái niệm về “Công nghệ (tiếng Anh: technology) là sự phát minh, sự thay đổi, việc sử dụng, và kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống và phương pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể”. Định nghĩa công nghệ của Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP): “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về qui trình kỹ thuật để chế biến vật liệu và thông tin. Công nghệ bao gồm kỹ năng, kiến thức, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ”. Luật Khoa học và công nghệ (Quốc hội Việt Nam, 2013) lý giải “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”.
Theo tài liệu bài giảng Quản lý Công nghệ của TS. Nguyễn Đình Bình (2017), các bộ phận cấu thành một Công nghệ bao gồm 4 yếu tố THIO (Technoware, Humanware, Infoware, Orgaware) như sau: - Phần vật tư kỹ thuật (T): Công nghệ hàm chứa trong các vật thể như máy móc, thiết bị, phương tiện và cấu trúc hạ tầng,. - Phần con người (H): Công nghệ hàm chứa trong các kỹ năng của con người, bao gồm: Kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng học hỏi, tích luỹ được trong quá trình hoạt động,. - Phần thông tin (I): Công nghệ hàm chứa trong các dữ liệu đã được tư liệu hoá sử dụng trong Công nghệ như các lý thuyết, phương pháp, công thức, các thông số và các bí quyết.
- Phần tổ chức (O): Công nghệ hàm chứa trong khung thể chế để xây dựng cấu trúc tổ chức, những qui định về quyền hạn, trách nhiệm, sự phối hợp giữa các cá nhân. Một luận điểm chung rút ra từ những quan điểm trên là, khoa học và kỹ thuật là yếu tố nền tảng của công nghệ, còn quản lý và khoa học quản lý là yếu tố gắn kết các yếu tố của công nghệ thành một hệ thống và nó quyết định sự triển khai, thành 3 https://vi.org/wiki/C%C3%B4ng_ngh%E1%BB%87https://vi.org/wiki/Công nghệ 18 bại của công nghệ. Ngày nay, công nghệ hỗ trợ con người sống và làm việc hiệu quả hơn và đóng góp trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như nông nghiệp, sản xuất, giao tiếp, vận tải, xử lý số liệu. Không chỉ thế, công nghệ còn đóng vai trò là thước đo phản ánh sự phát triển của một quốc gia, nâng cao vị thế cạnh tranh của quốc gia đó trên trường quốc tế.