Tổng quan nghiên cứu

Ô nhiễm rác thải nhựa đại dương đang là một trong những khủng hoảng môi trường nghiêm trọng nhất trên phạm vi toàn cầu. Theo các báo cáo quốc tế, mỗi năm có khoảng 0,28 đến 0,73 triệu tấn rác thải nhựa từ Việt Nam xả ra biển, chiếm gần 6% tổng lượng rác nhựa thải ra đại dương của toàn thế giới và xếp thứ tư trong số các quốc gia có lượng phát thải lớn nhất. Đáng chú ý, có đến 80% rác thải nhựa đại dương có nguồn gốc xuất phát trực tiếp từ các hoạt động sinh hoạt, sản xuất và du lịch trên đất liền.

Tỉnh Quảng Ninh sở hữu đường bờ biển dài 250 km với hơn 40.000 ha bãi triều và trên 20.000 ha eo vịnh, giữ vị trí đầu tàu kinh tế biển vùng Đông Bắc. Trong đó, Vịnh Hạ Long hai lần được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới về giá trị cảnh quan và địa chất - địa mạo. Vào giai đoạn cao điểm năm 2018, địa danh này đón hơn 4 triệu lượt khách du lịch, kéo theo hơn 2.000 tấn rác thải sinh hoạt phát sinh từ các phương tiện tàu lưu trú và vận chuyển. Hiện trạng rác thải trôi nổi, đặc biệt là các loại rác thải nhựa kích thước lớn như phao xốp, chai nhựa PET và túi nilon, đã và đang gây sức ép nặng nề lên hệ sinh thái biển, làm suy giảm vẻ đẹp cảnh quan và tạo nguy cơ nhận khuyến nghị cảnh báo bảo tồn từ Trung tâm Di sản Thế giới.

Nghiên cứu của học viên Nguyễn Trang Nhung thuộc chuyên ngành Môi trường và Phát triển bền vững, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung đánh giá thực trạng phát sinh, công tác thu gom và xử lý rác thải nhựa lớn ven bờ cũng như trên các tuyến du lịch Vịnh Hạ Long giai đoạn 2018 - 2021. Luận văn hướng tới mục tiêu đề xuất hệ thống giải pháp quản lý đồng bộ từ chính sách, kỹ thuật đến giáo dục cộng đồng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nâu sang xanh và phát triển bền vững không gian di sản.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề tài vận dụng lý thuyết Quản lý tổng hợp chất thải rắn (ISWM) kết hợp với mô hình Kinh tế tuần hoàn (Circular Economy) nhằm tiếp cận toàn diện vòng đời của sản phẩm nhựa từ khâu sản xuất, tiêu thụ đến thải bỏ và tái chế. Nghiên cứu lấy nguyên tắc 5R làm trọng tâm định hướng giải pháp, bao gồm: Từ chối (Refuse), Giảm thiểu (Reduce), Tái sử dụng (Reuse), Tái chế (Recycle) và Thay thế bằng vật liệu thân thiện (Replace).

Các khái niệm chuyên ngành then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Rác thải nhựa kích thước lớn (Macroplastic): Các mảnh vụn, vật dụng nhựa phế thải có kích thước trên 5 mm, có khả năng tồn tại từ 100 đến 1000 năm trong điều kiện tự nhiên.
  • Ô nhiễm trắng: Tình trạng ô nhiễm môi trường đất, nước và cảnh quan do túi nilon khó phân hủy gây ra.
  • Tích tụ sinh học và thôi nhiễm hóa chất: Quá trình các hợp chất phụ gia độc hại như Bisphenol A (BPA), Phthalate và Polychlorinated biphenyls (PCB) từ rác nhựa giải phóng vào môi trường nước, xâm nhập vào chuỗi thức ăn từ sinh vật phù du đến cá, chim biển và con người.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa thu thập dữ liệu thứ cấp, điều tra thực địa và khảo sát xã hội học định lượng:

  • Phương pháp kế thừa dữ liệu: Tiếp cận và xử lý chuỗi số liệu phát sinh chất thải rắn sinh hoạt, báo cáo thu gom rác từ Ban Quản lý Vịnh Hạ Long, Công ty Cổ phần Môi trường đô thị Hạ Long, Công ty Cổ phần Cây xanh công viên Quảng Ninh, cùng báo cáo kỹ thuật của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF) và URENCO.
  • Phương pháp điều tra thực địa: Tác giả đã thực hiện tổng cộng 18 chuyến khảo sát thực địa trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2021. Phạm vi khảo sát bao quát 3 tuyến du lịch với 13 điểm tham quan trọng yếu (Động Thiên Cung, Hang Đầu Gỗ, Hòn Gà Chọi, Đảo Ti Tốp, Hang Sửng Sốt, Hang Luồn, Cửa Vạn, Vung Viêng, Cống Đỏ) và 3 tuyến phát sinh rác thải ven bờ chạy dài từ Chợ Hạ Long I, đường bao biển Hồng Hà đến Cảng cá Hà Phong và khu vực Giếng Đáy.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo sát nhận thức được tiến hành thông qua bảng hỏi đóng gồm 16 câu hỏi chuyên sâu trên nền tảng Google Forms. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 800 phiếu phát ra cho học sinh Trung học phổ thông tại Trung tâm Hướng nghiệp và Giáo dục Thường xuyên tỉnh Quảng Ninh, thu về 703 phiếu hợp lệ (237 phiếu khối 10, 266 phiếu khối 11, 200 phiếu khối 12). Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo khối lớp được lựa chọn vì nhóm thanh thiếu niên cư trú ven bờ có nhận thức phát triển hoàn thiện, gắn bó trực tiếp với môi trường địa phương và đại diện cho lực lượng nòng cốt trong lan tỏa lối sống xanh.
  • Xử lý dữ liệu: Toàn bộ dữ liệu được phân tích thống kê mô tả và tương quan bằng phần mềm chuyên dụng, phục vụ việc rút ra các nhận định khoa học chuẩn xác.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng khối lượng rác thải nhựa phát sinh trên toàn địa bàn tỉnh Quảng Ninh năm 2020 đạt khoảng 210,1 tấn/ngày, tương đương với 76,49 nghìn tấn/năm. Trong đó, thành phố Hạ Long có lượng phát thải lớn nhất với 65,8 tấn/ngày (chiếm 31,3% toàn tỉnh, riêng chất thải rắn sinh hoạt đô thị đóng góp 50,1 tấn/ngày). Ngược lại, huyện miền núi Bình Liêu có mức phát sinh thấp nhất với 1,9 tấn/ngày (khoảng 696 tấn/năm). Trung bình một người dân Quảng Ninh thải ra khoảng 2,53 kg nhựa/tháng (tương đương 30,4 kg/người/năm).

Cơ cấu thành phần rác thải nhựa tại địa phương cho thấy nhóm nhựa giá trị thấp chiếm tỷ trọng áp đảo. Nhựa LDPE (chủ yếu là túi nilon, màng bọc) chiếm trên 80% tổng lượng rác nhựa tại các khu vực như thành phố Uông Bí, thị xã Đông Triều và huyện Cô Tô. Tỷ lệ HDPE trung bình toàn tỉnh chiếm 69,5%, PVC chiếm 10,2%, PS chiếm 6,2%, trong khi các nhóm nhựa có giá trị tái chế cao như PE chỉ đạt 4,4% và PP đạt 3,8%.

Từ nguồn hoạt động kinh tế biển, năm 2020 tổng lượng rác nhựa xả trực tiếp ra biển từ đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đạt 2.503 tấn. Trong đó, tàu cá nhỏ ven bờ dưới 15m xả thải nhiều nhất với 1.660 tấn (chiếm 66,3%), hoạt động nuôi trồng thủy sản tạo ra 748 tấn (chiếm 29,9%, với định mức bình quân 1 tấn thủy sản nuôi thải ra 11 kg nhựa), và tàu cá xa bờ đóng góp 95 tấn (chiếm 3,8%). Dự báo đến năm 2025, lượng rác nhựa đại dương từ ngành thủy sản sẽ giảm nhẹ về mức 2.377 tấn và tiếp tục giảm xuống 2.338 tấn vào năm 2030 nhờ chính sách cắt giảm tàu cá công suất nhỏ.

Trong công tác thu gom, năm 2018 các đơn vị chuyên trách đã vớt được hơn 400 tấn rác trôi nổi trên vịnh và gần 300 tấn rác ven bờ. Khối lượng rác biến động mạnh theo mùa và lượng khách, đạt đỉnh vào tháng 12 với 64,194 tấn rác trên vịnh (2,07 tấn/ngày) và 44,212 tấn rác ven bờ (1,43 tấn/ngày). Năm 2020, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 làm sụt giảm khách du lịch, tổng lượng rác trôi nổi thu gom giảm 333,15 tấn (giảm 56,68% so với năm 2019).

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh mối tương quan chặt chẽ giữa sự phát triển đô thị hóa, mật độ du khách và áp lực rác thải nhựa lên không gian di sản. Nguồn thải ven bờ từ hệ thống cống rãnh đô thị thành phố Hạ Long kết hợp với tập quán xả bỏ phao xốp, ngư cụ hỏng của ngư dân là nguyên nhân chính khiến rác tích tụ tại các chân đảo đá và luồng tàu chạy.

Về mặt biểu diễn trực quan, các chỉ số phát thải được minh họa sinh động thông qua biểu đồ cột kép so sánh lượng rác sinh hoạt đô thị và dịch vụ thương mại của 13 đơn vị hành chính, biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu 6 nhóm polyme (PET, HDPE, PVC, LDPE, PP, PS) và đồ thị đường theo dõi biến thiên tải lượng rác thu gom qua 12 tháng song hành với biểu đồ lượt tàu du lịch xuất bến.

So với các đô thị biển lớn như Đà Nẵng (phát sinh 171,68 đến 189,25 tấn nhựa/ngày) hay Thành phố Hồ Chí Minh (khoảng 1.800 tấn nhựa/ngày), khối lượng phát sinh của Quảng Ninh nằm ở mức trung bình cao. Tuy nhiên, mức độ nhạy cảm sinh thái của Vịnh Hạ Long đòi hỏi công tác quản lý phải nghiêm ngặt hơn gấp nhiều lần. Kết quả khảo sát 703 học sinh cho thấy nhận thức về tác hại môi trường đạt mức cao nhưng hành vi từ chối đồ nhựa dùng một lần còn gặp nhiều rào cản do thiếu các vật dụng thay thế tiện lợi với giá thành hợp lý.

Đề xuất và khuyến nghị

Hệ thống giải pháp quản lý rác thải nhựa Vịnh Hạ Long được thiết kế đồng bộ theo 4 nhóm hành động cụ thể:

Thứ nhất, kiểm soát triệt để nguồn phát thải từ hoạt động thủy sản và đô thị ven bờ. Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành quy chuẩn thay thế 100% phao xốp trong lồng bè nuôi trồng thủy sản bằng vật liệu nhựa nổi HDPE hoặc composite bền vững, hoàn thành dứt điểm trước năm 2025. Đồng thời, lắp đặt hệ thống lưới chắn và bẫy rác cơ học tại tất cả các cửa cống xả đô thị ven bờ vịnh nhằm giữ lại ít nhất 85% lượng rác thô trước khi trôi ra biển.

Thứ hai, nâng cấp quy trình phân loại và công nghệ thu gom rác trên vịnh. Ban Quản lý Vịnh Hạ Long duy trì liên tục đội tàu thu gom cơ động gồm trên 30 thuyền nan, đò máy công suất 8 đến 44CV để tiếp cận các góc khuất, chân đảo và hang động nhỏ. Yêu cầu toàn bộ hơn 500 tàu du lịch thực hiện nghiêm ngặt việc phân loại rác tại nguồn ngay trên tàu thành hai nhóm hữu cơ và vô cơ tái chế, đặt mục tiêu thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn 100% lượng rác phát sinh từ du khách (khoảng 2.000 tấn/năm).

Thứ ba, thúc đẩy chương trình giáo dục sinh thái và thực hành mô hình 5R trong trường học. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh chủ trì đưa chuyên đề Bảo vệ môi trường biển và phòng chống ô nhiễm trắng vào hoạt động ngoại khóa tại 100% các trường Trung học phổ thông trên địa bàn ven biển giai đoạn 2023 - 2026. Thiết lập các câu lạc bộ thanh niên xung kích thu gom rác, hướng tới mục tiêu 95% học sinh cam kết từ chối sử dụng túi nilon và chai nhựa dùng một lần.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế tài chính và ứng dụng công nghệ xử lý tiên tiến. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đẩy nhanh tiến độ thu hút đầu tư nhà máy đốt rác phát điện áp dụng công nghệ tầng sôi (CFB) tại Trung tâm Xử lý chất thải rắn Vũ Oai, giảm tỷ lệ chôn lấp rác nhựa xuống dưới 20% vào năm 2030. Lực lượng Cảnh sát Môi trường tăng cường tuần tra, áp dụng phạt nguội mức tối đa đối với hành vi vứt rác thải nhựa xuống biển theo Nghị định số 45/2022/NĐ-CP.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho bốn nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và Ban Quản lý Di sản (Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ninh, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long, UBND các địa phương ven biển): Luận văn cung cấp bức tranh số liệu chi tiết về 65,8 tấn rác nhựa/ngày tại Hạ Long và cơ cấu rác thải từ 2.503 tấn chất thải thủy sản, làm cơ sở khoa học để hoạch định quy hoạch thu gom chất thải rắn và xây dựng hồ sơ bảo tồn di sản bền vững.

  2. Doanh nghiệp dịch vụ du lịch, hiệp hội tàu du lịch và đơn vị môi trường đô thị: Giúp các chủ tàu và đơn vị lữ hành nắm bắt định mức phát thải (0,5 kg rác/khách/chuyến đi) để thiết kế quy trình phục vụ không rác thải nhựa, tối ưu hóa tuyến thu gom và xây dựng hình ảnh thương hiệu du lịch xanh đạt chuẩn quốc tế.

  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp kết hợp điều tra thực địa 18 chuyến với khảo sát xã hội học 703 mẫu, mở ra các hướng nghiên cứu chuyên sâu về vi nhựa và chuỗi vận chuyển ô nhiễm ven bờ.

  4. Cán bộ Đoàn thanh niên, ban giám hiệu các trường trung học phổ thông: Khai thác trực tiếp bộ công cụ bảng hỏi khảo sát nhận thức và mô hình truyền thông 5R để triển khai các dự án trường học xanh, nâng cao trách nhiệm cộng đồng cho thanh thiếu niên địa phương.

Câu hỏi thường gặp

  1. Rác thải nhựa trôi nổi trên Vịnh Hạ Long chủ yếu bắt nguồn từ đâu? Khoảng 80% rác thải nhựa đại dương xuất phát từ đất liền. Tại Vịnh Hạ Long, nguồn phát sinh lớn nhất là từ sinh hoạt đô thị thành phố Hạ Long với 50,1 tấn nhựa/ngày trôi theo cống rãnh ra biển. Bên cạnh đó, hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản xả ra 2.503 tấn rác nhựa/năm, trong đó tàu cá nhỏ đóng góp tới 66,3%.

  2. Loại polyme nào chiếm tỷ trọng cao nhất trong rác thải nhựa tại Quảng Ninh? Qua khảo sát thực tế, nhóm nhựa mềm LDPE (túi nilon, màng bọc) và HDPE chiếm tỷ lệ lớn nhất, đạt trên 80% ở các vùng ven biển như Uông Bí, Đông Triều, Cô Tô. Tỷ lệ HDPE trung bình toàn tỉnh là 69,5%, trong khi các loại nhựa có giá trị thương mại tái chế cao như PP, PE chiếm tỷ lệ rất thấp.

  3. Tại sao tàu cơ giới lớn không thể thu gom triệt để rác trên Vịnh Hạ Long? Vịnh Hạ Long có đặc thù hàng nghìn đảo đá vôi, bãi triều và eo vụng quanh co. Rác thải nhựa nhẹ thường dạt sâu vào các chân đảo đá và vách hang. Do đó, các đơn vị môi trường phải duy trì trên 30 thuyền nan, đò nhỏ công suất 8 đến 44CV để tiếp cận và vớt thủ công hơn 400 tấn rác mỗi năm.

  4. Mỗi du khách tham quan vịnh phát sinh lượng chất thải rắn là bao nhiêu? Theo tính toán thực tế, trung bình mỗi khách du lịch thải ra khoảng 0,5 kg chất thải rắn và 100 lít nước thải trong một chuyến tham quan. Với lượng khách hơn 4 triệu lượt vào năm 2018, riêng đội tàu du lịch đã tạo ra hơn 2.000 tấn rác, đòi hỏi phải kiểm soát phân loại nghiêm ngặt ngay trên boong tàu.

  5. Giải pháp mang tính đột phá nhất để bảo vệ môi trường vịnh là gì? Giải pháp đột phá nhất là kiểm soát tận gốc nguồn thải trên đất liền kết hợp áp dụng nguyên tắc 5R. Việc chuyển đổi 100% phao xốp sang vật liệu composite, lắp bẫy rác tại các cống đô thị Hạ Long và nâng cao ý thức tiêu dùng của học sinh cùng du khách sẽ giải quyết triệt để vấn đề rác thải trôi nổi.

Kết luận

  • Xác lập bộ cơ sở dữ liệu định lượng đầy đủ về hiện trạng phát sinh rác thải nhựa tại Quảng Ninh với tổng lượng 210,1 tấn/ngày, trong đó thành phố Hạ Long dẫn đầu với 65,8 tấn/ngày.
  • Nhận diện rõ ràng nguồn phát thải từ hoạt động thủy sản với 2.503 tấn nhựa/năm thải ra biển, chỉ ra nhóm tàu cá nhỏ dưới 15m chiếm tỷ lệ áp đảo 66,3%.
  • Đánh giá khách quan hiệu quả thu gom thực tế đạt trên 400 tấn rác trên vịnh và gần 300 tấn rác ven bờ mỗi năm thông qua mạng lưới hơn 30 phương tiện thu gom cỡ nhỏ.
  • Đo lường chính xác mức độ nhận thức và các rào cản hành vi của 703 học sinh trung học phổ thông, chứng minh vai trò hạt nhân của giáo dục môi trường học đường.
  • Đề xuất lộ trình giải pháp liên ngành 2023 - 2030, kết hợp chặt chẽ giữa công nghệ xử lý nhiệt hiện đại, chế tài xử phạt vi phạm và cam kết từ chối đồ nhựa dùng một lần.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh khoa học thực chứng về rác thải nhựa kích thước lớn, phục vụ thiết thực cho quy hoạch phát triển bền vững không gian di sản Vịnh Hạ Long. Trong giai đoạn 2023 - 2025, tỉnh Quảng Ninh cần hoàn thành mục tiêu thay thế toàn bộ phao xốp nuôi biển và đến năm 2030 giảm tối thiểu 50% rác thải nhựa đại dương. Hãy cùng chung tay thay đổi thói quen tiêu dùng và hành động vì một Vịnh Hạ Long xanh, sạch, phát triển bền vững cho muôn đời sau.