Tổng quan nghiên cứu

Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2017, diện tích rừng trên toàn quốc đạt hơn 14 triệu ha, gồm hơn 10 triệu ha rừng tự nhiên và hơn 4 triệu ha rừng trồng, nâng tỷ lệ che phủ rừng đạt trên 40%. Tuy nhiên, chất lượng rừng tự nhiên giàu đa dạng sinh học đang suy thoái nghiêm trọng, trong khi thu nhập từ lâm nghiệp chỉ chiếm khoảng 25% tổng thu nhập của người dân miền núi. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu cấp bách phải hoàn thiện khung pháp lý về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng nhằm giúp người làm nghề rừng có thể sống và làm giàu từ rừng.

Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của chủ rừng theo Luật Lâm nghiệp năm 2017 trong mối tương quan so sánh với Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004. Mục tiêu cốt lõi là làm rõ những bất cập về quyền tài sản, cơ chế hưởng lợi và phân bổ tài nguyên, từ đó đánh giá thực tiễn thi hành tại tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn 2014 - 2018. Địa bàn tỉnh Quảng Nam sở hữu 671.997 ha rừng, bao gồm 455.506 ha rừng tự nhiên và 216.491 ha rừng trồng, là mẫu hình thực tiễn điển hình cho công tác quản lý tài nguyên.

Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế quản lý lâm nghiệp bền vững. Kết quả nghiên cứu hỗ trợ trực tiếp cho địa phương trong việc thực hiện mục tiêu giao khoán bảo vệ 95.910 ha rừng, mở rộng 13.950 ha rừng gỗ lớn và nhân rộng mô hình kinh tế dược liệu dưới tán rừng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển bền vững trong quản lý tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm sự cân bằng giữa bảo tồn hệ sinh thái, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội cho cả thế hệ hiện tại và tương lai. Bên cạnh đó, lý thuyết kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được áp dụng để giải quyết quan hệ sở hữu, quyền tài sản và cơ chế vận hành của các chủ thể kinh tế lâm nghiệp theo chuỗi giá trị từ gây trồng, bảo vệ đến chế biến và thương mại.

Khung phân tích của đề tài xây dựng dựa trên 4 khái niệm cốt lõi theo Luật Lâm nghiệp năm 2017 bao gồm: Khái niệm rừng (hệ sinh thái có diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên, độ tàn che từ 0,1 trở lên); Khái niệm chủ rừng (phân định rõ 7 nhóm chủ thể quản lý tại Điều 8); Khái niệm tài nguyên rừng (bao gồm tài nguyên gỗ, lâm sản ngoài gỗ, đa dạng sinh học, đất và nước); Khái niệm quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng (quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản do chủ rừng tự đầu tư).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ các báo cáo thống kê chính thức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Lâm nghiệp, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn 2014 - 2018.

Đề tài sử dụng phương pháp phân tích quy phạm pháp luật kết hợp tổng hợp logic để đánh giá 12 chương và 108 điều của Luật Lâm nghiệp năm 2017. Phương pháp so sánh luật học được triển khai nhằm đối chiếu các quy định pháp luật Việt Nam với kinh nghiệm quản lý rừng của Phần Lan, Brazil và Trung Quốc. Phương pháp thống kê mô tả được thực hiện trên mẫu dữ liệu toàn diện tại 18 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Quảng Nam, khảo sát trọng điểm tại các khu vực bảo tồn và vùng phát triển dược liệu tập trung. Việc lựa chọn phương pháp này bảo đảm tính khách quan, giúp lượng hóa chính xác hiệu quả thực thi chính sách giao khoán và cho thuê môi trường rừng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, pháp luật hiện hành đã tạo bước tiến khi công nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, nhưng vẫn tồn tại mâu thuẫn lớn về quyền tài sản của doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, doanh nghiệp lâm nghiệp nhà nước được giao đất không thu tiền hoặc có nguồn gốc ngân sách lại không được xác lập quyền sở hữu rừng trồng, gây xung đột trực tiếp với Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Bộ luật Dân sự năm 2015 về quyền tài sản góp vốn.

Thứ hai, việc thực thi chính sách giao khoán bảo vệ rừng tại Quảng Nam ghi nhận kết quả tích cực với 64.000 ha được bàn giao trong năm 2018, tuy nhiên mới chỉ đạt khoảng 66,7% so với mục tiêu đề ra là 95.910 ha. Tỷ lệ hoàn thành công tác trồng rừng sản xuất trong 5 tháng đầu năm 2019 đạt 2.763 ha, tương ứng 31% kế hoạch năm, trong khi công tác trồng rừng thay thế đạt tiến độ rất cao với gần 2.000 ha, tương đương 93,68% chỉ tiêu.

Thứ ba, cơ chế hưởng lợi chưa tương xứng khiến áp lực vi phạm lâm luật từ phía hộ gia đình và cá nhân luôn ở mức cao. Số liệu toàn quốc cho thấy năm 2015 có 19.825 đối tượng vi phạm là hộ gia đình, cá nhân và trong 8 tháng đầu năm 2018 tiếp tục ghi nhận hơn 9.000 trường hợp vi phạm do áp lực mưu sinh.

Thứ tư, chính sách cho thuê môi trường rừng mở ra không gian phát triển kinh tế mới. Tỉnh Quảng Nam đã giao cho 4 tổ chức thuê 44,47 ha và 2 đơn vị sự nghiệp thuê 10,9 ha môi trường rừng để phát triển sâm Ngọc Linh, đồng thời tiến hành quy hoạch 10.000 ha quế Trà My nhằm nâng cao thu nhập cho cộng đồng địa phương.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các hạn chế trên xuất phát từ sự chồng chéo giữa pháp luật lâm nghiệp và pháp luật đất đai, cùng với việc thiếu các tiêu chuẩn kỹ thuật lượng hóa giá trị gia tăng của rừng tự nhiên tại thời điểm giao rừng. So sánh với các nghiên cứu quốc tế từ Ngân hàng Thế giới năm 2007 và bài học từ Phần Lan năm 2000, việc trao quyền định đoạt tài sản rõ ràng và bảo đảm lợi ích kinh tế lâu dài là điều kiện tiên quyết để chủ rừng chủ động bảo vệ rừng bền vững thay vì khai thác cạn kiệt tài nguyên.

Dữ liệu nghiên cứu tại Quảng Nam có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ phân bổ hiện trạng 671.997 ha đất lâm nghiệp và bảng so sánh tiến độ thực hiện các chỉ tiêu giao khoán. Việc triển khai quy định giá cho thuê môi trường rừng không thấp hơn 1% tổng doanh thu theo Nghị định 156/2018/NĐ-CP là cơ sở thực tiễn quan trọng, vừa đảm bảo tính bền vững môi trường, vừa tạo nguồn thu tái đầu tư cho các ban quản lý rừng đặc dụng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ khung pháp lý về quyền sở hữu rừng trồng của doanh nghiệp nhà nước. Sửa đổi các quy định tại Luật Lâm nghiệp nhằm công nhận quyền sở hữu tài sản rừng trồng hình thành từ vốn nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý, bảo đảm tính thống nhất với Luật Doanh nghiệp năm 2014 trước quý IV năm 2020. Chủ thể thực hiện là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Tư pháp.

Thứ hai, thiết lập cơ chế định giá rừng và áp dụng chứng chỉ quản lý rừng bền vững quốc tế FSC. Xây dựng bộ quy chuẩn định lượng giá trị gia tăng của rừng tự nhiên làm căn cứ thế chấp, bảo lãnh tín dụng, hướng tới mục tiêu 100% diện tích 13.950 ha rừng gỗ lớn tại Quảng Nam được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững giai đoạn 2020 - 2025. Chủ thể thực hiện là Tổng cục Lâm nghiệp và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam.

Thứ ba, nhân rộng mô hình kinh tế lâm sản ngoài gỗ và dịch vụ môi trường rừng. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam cần đẩy nhanh tiến độ phê duyệt các dự án cho thuê môi trường rừng, phấn đấu nâng quy mô diện tích trồng sâm Ngọc Linh và dược liệu lên hơn 1.000 ha, đồng thời hoàn thành dứt điểm quy hoạch 10.000 ha quế Trà My đến năm 2023.

Thứ tư, nâng cao năng lực giám sát và tăng cường chế tài bảo vệ rừng. Hiện đại hóa trang thiết bị kiểm lâm bằng công nghệ viễn thám, phấn đấu kéo giảm trên 30% số vụ vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp trên toàn quốc đến năm 2025. Trách nhiệm thực hiện thuộc về lực lượng Kiểm lâm phối hợp cùng chính quyền địa phương các cấp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách lâm nghiệp: Nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ thực chứng và các đề xuất điều chỉnh chính sách, giúp cơ quan soạn thảo hoàn thiện các văn bản dưới luật hướng dẫn Luật Lâm nghiệp năm 2017 cho 63 tỉnh, thành phố.

Doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế đầu tư lâm nghiệp: Cung cấp cẩm nang pháp lý chuyên sâu về quyền tài sản, điều kiện nhận khoán và thủ tục thuê môi trường rừng với mức phí sàn 1% doanh thu, hỗ trợ tối ưu hóa mô hình phát triển chuỗi giá trị chế biến gỗ lớn.

Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và cộng đồng dân cư: Tài liệu hướng dẫn cụ thể quyền hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng, nghĩa vụ tuần tra phòng cháy chữa cháy và phương thức phối hợp bảo vệ hiệu quả diện tích 64.000 ha rừng nhận khoán.

Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Môi trường: Nguồn tài liệu học thuật giá trị về lý luận quyền tài sản tài nguyên, tham khảo phương pháp tiếp cận thực tiễn giai đoạn 2014 - 2018 tại miền Trung Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Điểm đột phá lớn nhất của Luật Lâm nghiệp năm 2017 đối với quyền của chủ rừng là gì? Luật Lâm nghiệp năm 2017 đã thể chế hóa quan điểm quản lý lâm nghiệp theo chuỗi giá trị và bổ sung cộng đồng dân cư thành một trong 7 nhóm chủ rừng hợp pháp. Điểm quan trọng nhất là luật công nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, trao cho chủ rừng đầy đủ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản do họ đầu tư.

Mức giá cho thuê môi trường rừng để kinh doanh du lịch sinh thái được xác định như thế nào? Theo Nghị định 156/2018/NĐ-CP, giá cho thuê môi trường rừng đặc dụng do hai bên tự thỏa thuận nhưng không được thấp hơn 1% tổng doanh thu thực hiện trong năm của bên thuê. Trường hợp có từ 2 tổ chức đăng ký trở lên, cơ quan có thẩm quyền sẽ tổ chức đấu giá công khai với giá khởi điểm từ 1% doanh thu.

Tại sao số lượng vụ vi phạm pháp luật lâm nghiệp của hộ gia đình, cá nhân vẫn ở mức cao? Nguyên nhân chủ yếu do sinh kế của người dân miền núi còn nhiều khó khăn khi thu nhập lâm nghiệp mới chiếm khoảng 25% tổng thu nhập. Trong năm 2015, toàn quốc có 19.825 hộ vi phạm do áp lực đất sản xuất và việc tiếp cận các nguồn lợi hợp pháp từ rừng tự nhiên vẫn còn gặp nhiều rào cản hành chính.

Tỉnh Quảng Nam đã triển khai các mô hình kinh tế dược liệu dưới tán rừng đạt kết quả ra sao? Tỉnh Quảng Nam đã cấp phép cho 4 tổ chức thuê 44,47 ha và 2 đơn vị sự nghiệp thuê 10,9 ha môi trường rừng để trồng sâm Ngọc Linh. Cùng với quy hoạch 10.000 ha quế Trà My, mô hình này vừa giúp đồng bào dân tộc thoát nghèo, vừa giữ vững 455.506 ha rừng tự nhiên.

Tiêu chí xác định diện tích rừng và điều kiện trở thành chủ rừng hợp pháp được quy định thế nào? Theo quy định pháp luật hiện hành, rừng là hệ sinh thái có diện tích liền vùng tối thiểu từ 0,3 ha và độ tàn che từ 0,1 trở lên. Chủ thể được công nhận là chủ rừng khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định giao rừng, cho thuê rừng hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng rừng hợp pháp.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quyền và nghĩa vụ của 7 nhóm chủ rừng theo quy định mới của Luật Lâm nghiệp năm 2017.
  • Đánh giá chi tiết thực trạng quản lý 671.997 ha rừng tại tỉnh Quảng Nam, làm rõ kết quả giao khoán 64.000 ha và tiềm năng từ các dự án dược liệu dưới tán rừng.
  • Nhận diện chính xác điểm nghẽn pháp lý về quyền sở hữu vốn góp rừng của doanh nghiệp nhà nước và rào cản thu nhập 25% của người làm nghề rừng.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi gắn với lộ trình hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực thực thi kiểm lâm giai đoạn 2019 - 2025.
  • Khẳng định việc chuyển đổi sang mô hình quản trị rừng theo chuỗi giá trị và cấp chứng chỉ FSC là con đường tất yếu để phát triển lâm nghiệp bền vững.

Nghiên cứu là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị thực tiễn cao cho quá trình hoàn thiện các thông tư hướng dẫn và quy hoạch phát triển lâm nghiệp đến năm 2030. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu cần đẩy mạnh ứng dụng các giải pháp của luận văn vào công tác quản trị tài nguyên rừng tại địa phương.