CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ RỪNG 1. Quan niệm chung về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng 1. Khái niệm rừng, tài nguyên rừng và chủ rừng 1. Khái niệm rừng, chủ rừng Có nhiều cách định nghĩa rừng khác nhau nhưng hầu hết đều định nghĩa dựa vào phạm vi không gian, hệ thống sinh vật và cảnh quan địa lí Theo tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hiệp Quôc (FAO): “Rừng là một khu vực đất đai có diện tích lớn hơn 0,5 ha với độ che phủ của tán rừng trên 10%, độ cao trung bình tối thiểu của cây phải đạt 5 mét, rừng bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng.56] Theo Khoản 3, Điều 2, Luật Lâm nghiệp năm 2017 của Việt Nam thì: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên [52].
Trong phạm vi luận văn, khái niệm rừng được hiểu theo quy định tạo Luật Lâm nghiệp năm 2017 của Việt Nam. Điều kiện để trở thành chủ rừng đối với mỗi loại đối tượng chủ thể cũng có nhiều điểm không giống nhau. Trước hết họ phải thuộc một trong các nhóm đối tượng được tại Điều 8 Luật Lâm nghiệp 2017 (trừ Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được thành lập sau khi giao rừng phòng hộ, rừng đặc dụng). Tiếp theo họ phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, 10 cấp quyết định giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để trồng rừng căn cứ trên dự án đầu tư về lâm nghiệp được phê duyệt theo pháp luật về đầu tư (đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư tại nước ngoài), khu vực sinh sống tại địa phương có rừng (thường áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân) hoặc nhu cầu sử dụng vào mục đích kinh doanh (đối với tổ chức kinh tế), nghiên cứu (đối với tổ chức nghiên cứu khoa học), lí do an ninh - quốc phòng (đối với đơn vị vũ trang nhân dân).
Khi hoàn thành các thủ tục cần thiết họ sẽ trở thành chủ rừng và được công nhận quyền sử dụng rừng hoặc quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng [52]. Theo Khoản 9, Điều 2, Luật Lâm nghiệp năm 2017 của Việt Nam thì: Chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng; giao đất, cho thuê đất để trồng rừng; tự phục hồi, phát triển rừng; nhận chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế rừng theo quy định của pháp luật [52]. Khái niệm tài nguyên rừng Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hìnhthành và tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể sử dụng để đáp ứng các nhucầu trong cuộc sống. Tài nguyên thiên nhiên từ rừng được hiểu như là nguồn vậtchất hữu ích có sẵn trong tự nhiên để cung cấp cho nhu cầu kinh tế, xã hội củaloài người và sinh vật.
Tài nguyên thiên nhiên được phân loại thành: - Tài nguyên không tái tạo là nguồn tài nguyên khi khai thác và sử dụng sẽbị cạn kiệt dần và không khôi phục lại trạng thái ban đầu như tài nguyên khoángsản. - Tài nguyên tái tạo là nguồn tài nguyên sau khi sử dụng có thể tái sinh vàcó thể ngày càng phong phú hơn nếu được sử dụng hợp lý, quản lý tốt như tàinguyên đất, rừng, biển và tài nguyên nông nghiệp. 11 Có thể hiểu, tài nguyên rừng là một loại tài nguyên thiên nhiên có khảnăng tái tạo, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá to lớn baogồm rừng tự nhiên và rừng trồng trên đất lâm nghiệp, gồm có thực vật rừng,động vật rừng và những yếu tố tự nhiên có quan đến rừng (gọi chung là quần xãsinh vật). Tài nguyên rừng có thể được chia thành các nhóm sau: (1) Tài nguyêngỗ; (2) Tài nguyên phi gỗ; (3) Tài nguyên đa dạng sinh học; (4) Tài nguyên đất; (5) Tài nguyên nước.
Ngoài ra, rừng còn cung cấp cho con người lượng oxy dồidào, rừng điều hòa nước, chống xói mòn, giảm thiểu ô nhiễm, cân bằng khí cacbonic/oxy [37]. Tuy rừng có vai trò vô cùng to lớn và có giá trị đối với cuộc sống nhưngchúng ta chưa xếp chúng vào loại tài nguyên nào, chưa đánh giá hết những vaitrò của rừng. - Về tài nguyên gỗ, từ trước đến nay, gỗ được con người đánh giá là nguồntài nguyên cơ bản của hệ sinh thái rừng, nó cung cấp nguyên liệu cho các ngànhxây dựng, công nghiệp giấy, sản xuất các đồ gỗ, các loại dụng cụ gia đình.Các cây gỗ còn một giá trị khác quan trọng hơn nữa là bảo vệ đất, chống xóimòn, điều hòa khí hậu và lưu lượng nước của các dòng chảy lục địa. - Về tài nguyên phi gỗ, trước đây tài nguyên này thường gọi là lâm sảnphụ nhưng ngày nay, thuật ngữ “lâm sản ngoài gỗ” được sử dụng để chỉ tất cảcác loại tài nguyên rừng trừ tài nguyên gỗ.
Lâm sản ngoài gỗ bao gồm nhữngsản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng như củi, thangỗ, cành ngọn, gốc cây, những dịch vụ trong rừng như săn bắn, giải trí, dưỡngbệnh, dịch vụ du lịch sinh thái. Giá trị kinh tế do lâm sản ngoài gỗ đem lạihàng năm cho con người không thua kém so với gỗ. - Về tài nguyên đa dạng sinh học, đa dạng sinh học có vai trò cực kỳ quantrọng trong đời sống con người và môi trường. Các loài sinh vật hoang dại là cơsở và nguyên liệu để cải tiến và tạo ra các loại giống cây trồng, vật 12 nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng dịch bệnh.
Còn rất nhiều loài cây, loài vật hoang dã đã, đang và sẽ cung cấp cho chúng ta nguồn thực phẩm to lớn, nguồndược phẩm quý giá và nguồn gen vô cùng quan trọng trong việc chọn giống,không những chỉ cho con người hiện nay mà còn cho cả các thế hệ tương lai. Trước khi dịch AIDS bùng nổ, chúng ta không hề biết rằng cây hạt dẻ gai tạivịnh Moreton của Australia lại có thể cho chúng ta một loại chất thúc đẩy quátrình nghiên cứu phương pháp điều trị bệnh này. Hiện nay, có rất nhiều công tydược phẩm lớn trên thế giới đã đặt hàng hoặc tài trợ cho các viện nghiên cứu đadạng sinh học của các nước nhiệt đới để tìm hiểu, nghiên cứu và khai thác cácloài cây thuốc và con thuốc quý trong rừng của những quốc gia giàu có về đadạng sinh học này. Như vậy, nếu không quản lý tốt nguồn tài nguyên này thì hàng trăm loàicó những công dụng khác nhau có thê bị biến mất trước khi chúng ta nhận thứcđược tầm quan trọng của chúng.
- Ngoài ra, có ý kiến cho rằng, tài nguyên đất và nước trong rừng cũng làmột loại tài nguyên rừng. Như chúng ta đã biết, đất và nước là những nguồn tàinguyên vô cùng quan trọng đôi với con người. Rừng bảo vệ một diện tích đất đairất lớn tránh khỏi sự xói mòn và bạc màu, rừng còn điều hòa các dòng chảy, giữnước, hạn chế nước đổ ra biển, làm tăng lượng nước ngầm cho các vùng và làmlượng nước sạch được tái tạo nhanh hơn. Việc thống nhất quản lý tài nguyên đất, trong đó có đất rừng cũng đượcxác định là tài nguyên đặc biệt của Quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đấtnước, được quản lý theo pháp luật.
Nhà nước thực hiện thống nhất quản lý đốivới tài nguyên rừng bằng việc ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật vàbảo đảm cho pháp luật được thực thi. Việc quy định tài nguyên rừng thuộc sở hữu toàn dân của Việt Nam có 13 sựtương đồng với Trung Quốc và Liên bang Nga. Trung Quốc coi tài nguyên rừngdo Nhà nước thống nhất quản lý và Nhà nước Trung Quốc đã thực thi rất thànhcông pháp luật lâm nghiệp trong nhiều thập niên vừa qua. Trong khi tình hình tàinguyên rừng thế giới tiếp tục bị giảm xuống thì diện tích rừng của Trung Quốcđều giữ đà tăng trưởng, được Cơ quan môi trường Liên hợp quốc xếp vào danhsách một trong 15 nước có diện tích rừng nhiều nhất thế giới [37].
Liên bang Nga có hướng đến tư nhân hóa việc khai thác tài nguyên rừngvà pháp luật lâm nghiệp của Nga chú trọng phát triển ngành Lâm nghiệp thànhmột ngành công nghiệp khai thác, chế biến gỗ vì trữ lượng gỗ của Nga rất lớn.Trong khi đó, Phần Lan được xem là quốc gia thực thi thành công nhấtviệc bảo vệ rừng và quản lý rừng bền vững lại quy định đất đai, rừng thuộc sở hữu tư nhân. Nhà nước chỉ quản lý những diện tích rừng, đất rừng có vai tròquan trọng đối với đa dạng sinh học, còn lại các diện tích rừng đều được giaocho tư nhân quản lý [37, tr. Như vậy, có thể thấy rằng, tài nguyên rừng là một loại tài nguyên thiênnhiên vô cùng quý giá, các nước trên thế giới đều rất coi trọng việc bảo vệ, pháttriển và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên này. Khái niệm, đặc điểm quyền và nghĩa vụ của chủ rừng 1.
Khái niệm quyền và nghĩa vụ của chủ rừng Quyền của chủ rừng là khả năng của mỗi chủ rừng được tự do hành động. Khả năng đó được nhà nước ta ghi nhận trong pháp luật và được bảo đảm bằng quyền lực nhà nước. Các chủ rừng có quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng,đó là quyền được chiếm hữu, được sử dụng, định đoạt đối với cây trồng, vật nuôi, tài sản gắn liền với rừng trồng do chủ rừng tự đầu tư trong thời hạn được giao, được thuê để trồng rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng và các quy định khác của pháp luật có liên quan [37]. 14 Nghĩa vụ chủ rừng là sự tất yếu hành động của mỗi chủ rừng vì lợi ích của toàn thể Nhà nước và xã hội.
Sự tất yếu đó được Nhà nước quy định trongHiến pháp và bảo đảm thực hiện bằng mọi biện pháp, kể cả biện pháp cưỡng chế [37]. Đặc điểm quyền và nghĩa vụ của chủ rừng Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng có những đặc điểm sau: Thứ nhất, do rừng là tài sản đặc biệt nên việc chủ sở được Nhà nước giao rừng cho các chủ rừng cũng có những đặc điểm và tính chất riêng. Chế độ sở hữu rừng có sự khác biệt nhất định với chế độ sở hữu đất.