Chương I: Những vấn đề lý luận về quyền tự chủ kinh doanh của công ty nhà nước. - Chương II: Thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về quyền tự chủ kinh doanh của công ty nhà nước. - Chương III: Một sé giải pháp nhằm bao đảm quyền tự chủ kinh doanh của công ty nhà nước. CHUONG | NHUNG VAN DE LY LUAN VE QUYEN TU CHU KINH DOANH CUA CONG TY NHÀ NƯỚC 1.
Vai trò của công ty nha nước trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần 1. Khái niệm và các đặc trưng pháp lý của công ty nhà nước Sau khi giành được độc lập, chúng ta chủ trương xây dựng một Nhà nước xã hội chủ nghĩa với hai hình thức sở hữu đó là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, trong đó thành phần kinh tế quốc doanh giữ vai trò nòng cốt. Kinh tế quốc doanh được ưu tiên đặc biệt, do vậy, mặc dù trong điều kiện chiến tranh song chúng ta đã thành lập nhiều xí nghiệp quốc gia trên tất ca các ngành nghề, lĩnh vực tạo thành một hệ thống của nền kinh tế quốc dân. Nhiệm vụ của xí nghiệp quốc gia (DNNN) là sản xuất ra nhiều sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thời chiến, tuy vậy do điều kiện chiến tranh chúng ta không có điều kiện cụ thể hoá những nguyên tắc và phương pháp quản lý trong xí n§hiéphi giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta xác định trọng tâm là xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa với cơ chế tập trung bao cấp, theo đó quá trình phát triển doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cùng với những đổi thay trong xã hội đã dần tạo cho doanh nghiệp một địa vị pháp lý ổn định trong nên kinh tế xã hội chủ nghĩa với mục tiêu hoạt động của DNNN được xác định là đáp ứng hệ thống chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước.
Để đạt được hiệu quả tốt chúng ta từng bước thi hành chế độ hạch toán kinh tế để phát triển sản xuất. DNNN dan được trao chu động, độc lập, phát huy tính tích cực, tuy nhiên mới chỉ dừng ở mức độ sơ khai. Như vậy trong giai đoạn này không tồn tại khái niệm doanh nghiệp mà chỉ ton tại khái niệm xí nghiệp quốc doanh với tu cách là một cơ sở kinh tế của nhà nước. Nhận định chung về hiệu qua va tính tự chủ của doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ này là yếu kém và lệ thuộc.
Nhà nước vừa là chủ thể sở hữu, vừa là chủ thể quản lý và là chủ thể phân phối sản phẩm nên các xí nghiệp quốc doanh không mang bản chất doanh nghiệp, không hoạt động tự chủ kinh doanh mà nằm trong khối thống nhất kế hoạch của nhà nước, chỉ là công cụ để Nhà nước thực hiện kế hoạch kinh tế của mình. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986) đã có nhiều thay đổi quan trọng, DNNN sẽ hoạt động trong môi trường mới đó là quan hệ hàng hoá, tiền tệ trong cơ chế thị trường. Luật DNNN 1995 xác định “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế xã hội được giao”. Trong quá trình chuyển đổi, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước chúng ta thực hiện đa dạng hoá các hình thức sở hữu trên số lượng lớn các doanh nghiệp nhà nước với mục đích đưa doanh nghiệp nhà nước vào hoạt động bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trong cơ chế thị tímg luật DNNN 2003 thì “Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý đăng ký hoạt động theo quy định của luật này.” Như vậy, đã có sự tách bạch giữa doanh nghiệp nhà nước và công ty nhà nước, nội hàm khái niệm công ty nhà nước bây giờ bị thu hẹp lại, không còn đồng nhất với khái niệm doanh nghiệp nhà nước như trước đây.
DNNN là một khái niệm rộng bao gồm các doanh nghiệp nhà nước đầu tư toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối. Công ty nhà nước chỉ là một dạng đặc biệt của doanh nghiệp nhà nước. Những đặc trưng pháp lý của công ty nhà nước đó là: Thứ nhất: Công ty nhà nước là tổ chức kinh tế của Nhà nước, là một trong những cơ sở kinh tế của nền kinh tế quốc dân nhằm thực hiện chức năng kinh tế cua nhà nước. Chúng vừa thực hiện chức năng kinh tế, vừa thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ xã hội.
Các mục tiêu, nhiệm vụ xã hội này tuỳ theo từng điều kiện hoàn cảnh mà Nhà nước giao khác nhau. Nhà nước thông qua công ty nhà nước để tác động đến nền kinh tế thị trường theo hướng có lợi, khắc phục các nhược điểm của kinh tế thị trường như các nguy cơ khủng hoảng, thất nehiệp, tác động xấu đến môi trường. Thứ hai: Công ty nhà nước do Nhà nước trực tiếp đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc hoạt động công ích. Phần vốn nhà nước đầu tư từ ngân sách hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, tài sản trong doanh nghiệp nhà nước là tài sản của nhà nước.
Tuy nhiên Nhà nước là một chủ thể trừu tượng nên giao cho nhiều cơ quan khác nhau thực hiền quyền chủ sở hữu công ty nhà nước, hệ quả là tạo ra một khối lượng khong lồ doanh nghiệp nhà nước và một cơ chế quản lý chồng chéo, kìm hãm doanh nghiệp phát triển. Thứ ba; Công ty nhà nước là một pháp nhân, có tư cách pháp lý độc lập, với cơ cấu tổ chức chặt chẽ. Công ty nhà nước tiến hành kinh doanh và chịu trách nhiệm bằng chính tài sản hiện có, do vậy tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm cần sớm được xác định và mở rộng cho công ty nhà nước. Phan loạt công ty nhà nước Công ty nhà nước có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau.
Thứ nhất: Can cứ vào quy mô và hình thức hoạt động của công ty nhà nước thì có công ty nhà nước độc lập, công ty nhà nước thành viên và tổng công ty nhà nước. + Công ty nhà nước độc lập là công ty nhà nước mà trong đó được Nhà nước trực tiếp giao vốn, giao nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, không trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp khác và do vậy sẽ độc lập, tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong hạch toán kinh doanh. + Tổng công ty nhà nước là hình thức liên kết kinh tế trên cơ sở đầu tư, góp vốn của các công ty nhà nước, giữa công ty nhà nước và doanh nghiệp khác được hình thành trên cơ sở tổ chức và liên kết các đơn vị thành viên tạo ra một doanh nghiệp có quy mô lớn, các đơn vị thành viên có mối quan hệ chặt chẽ, gan bó với nhau về tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo nghiên cứu, tiếp thi hoặc thương hiệu.Hoạt động liên kết này nhằm tăng cường khả năng kinh doanh và thực hiện lợi ích của các đơn vị thành viên va tổng công ty. Quán triệt định hướng của Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba (Ban chấp hành TW khoá IX) chúng ta khắc phục một hình thức tổng công ty đơn nhất như theo luật DNNN 1995.
Để nhanh chóng hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, sử dụng đòn bẩy kinh tế thị trường để phát triển xã hội, chúng ta chủ trương xây dựng các loại hình tổng công ty làm nền tảng chuẩn bị chuyển đổi sang mô hình công ty mẹ - công ty con, tách quản lý nhà nước ra khỏi quản trị kinh doanh, giai phóng nhân lực, vật lực doanh nghiệp, tăng quyền tự chủ cho doanh nghiệp. Do vậy Luật DNNN 2003 quy định ba loại hình tổng công ty đó là Tổng công ty tự nguyện, Tổng công ty do nhà nước quyết định đầu tư và thành lập và Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn của nhà nước. + Công ty nhà nước thành viên thuộc tổng công ty nhà nước (Tổng công ty do nhà nước quyết định đầu tư và thành lập) được chia thành hai loại. Một là công ty thành viên hạch toán độc lập có quyền tự chủ trong kinh doanh, tự hạch toán theo phương thức lời ăn, lỗ chịu, tổng công ty không trả nợ thay cho đơn vi nay.
Hai là công ty thành viên hạch toán phụ thuộc không được hạch toán riêng mà hạc toán cùng tổng công ty, tổng công ty là người phải chịu trách nhiệm cuối cùng về các hoạt động kinh doanh của đơn vi này, do vậy thực chất đây chỉ là đơn vị thay mặt tổng công ty để kinh doanh nên quyền tự chủ kinh doanh bị hạn chế nhiều do hoạt động điều hành của tổng công ty. Thứ hai: Nếu dựa vào cơ chế quản lý nội bộ của công ty thì công ty nhà nước được chia thành hai loại đó là: Công ty nhà nước có hội đồng quản trị và Công ty nhà nước không có hội đồng quản trị. + Hội đồng quản trị được thành lập ở tổng công ty nhà nước và công ty nhà nước độc lập, có quy mô vốn lớn, giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác. Hội đồng quản trị là đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp, đứng ra nhận tài sản nhà nước đầu tư, quyết định chính sách, chiến lược đầu tư và tuyển chọn giám đốc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Theo quy định của pháp luật thì thành viên của hội đồng quản trị là những người được nhà nước chỉ định, được phân ra làm thành viên chuyên trách và thành viên không chuyên trách, họ không bỏ vốn vào kinh doanh nhưng được nhà nước phân công làm đại diện chủ sở hữu nhà nước để quyết định những vấn đề cơ bản trong công ty nhà nước, họ thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao một cách trung thực, vì lợi ích của công ty và lợi ích của nhà nước. Do vậy, việc Nhà nước uỷ quyền cho một tập thể làm đại diện quyền sở hữu tiến hành các hoạt động kinh doanh đã làm hạn chế tính năng động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của loại hình công ty này so với công ty nhà nước không có hội đồng quản trị. Tổng giám đốc công ty nhà nước có hội đồng quản trị điều hành các hoạt động của công ty theo mục tiêu, kế hoạch theo điều lệ công ty và các nghị quyết, quyết định của hội đồng quản tri.