Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN 1. QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN Khái niệm quyền tiếp cận thông tin Quyền tiếp cận thông tin (the right of access to information) theo nghĩa chung là nói về khả năng của tổ chức, cá nhân nhận được thông tin về hoạt động của các cơ quan công cộng qua các kênh thông tin công khai, sẵn có mà không cần phải yêu cầu. Trong ngôn ngữ tiếng Việt, thuật ngữ thông tin được hiểu là "tin tức về các sự kiện diễn ra trong thế giới xung quanh" [55]. Theo cách hiểu này thì mọi tin tức về các sự kiện diễn ra trên thế giới tự nhiên và xã hội đều trở thành thông tin.
Thực tiễn không phải mọi thông tin đó đều có ý nghĩa với nhà nước, xã hội; đều được sử dụng trong quản lý nhà nước và là nhu cầu cần thiết của mọi công dân, tổ chức. Mặt khác, trong đời sống nhà nước, xã hội, không chỉ có sự kiện mới là những thông tin mà còn là những số liệu, sự thực, hiện tượng, các quá trình, quan hệ đều trở thành những thông tin phục vụ cho hoạt động nhà nước. Nhưng để sử dụng một cách có hiệu quả đòi hỏi phải thu thập, xử lý và hệ thống hóa những thông tin đó dưới những hình thức nhất định. Ngày nay, trong một thế giới mở, nhu cầu thông tin của cá nhân, tổ chức ngày càng nhiều, càng đa dạng, phong phú, tùy theo nhu cầu của mình mà cần những thông tin khác nhau: thông tin về tri thức của nhân loại trên các lĩnh vực tự nhiên, xã hội; thông tin chính trị, thông tin kinh tế, xã hội, thông tin pháp luật; thông tin trong nước, thông tin quốc tế.
Như vậy, có bao nhiêu chủ thể - cá nhân, tổ chức thì có bấy nhiêu nhu cầu khác nhau về thông tin. Trong quyền tiếp cận thông tin, thông tin được tiếp cận chủ yếu là những thông tin do các cơ quan công cộng nắm giữ mà chủ thể có quyền tìm kiếm, 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiếp cận và phổ biến nhằm mục đích thực hiện hoặc bảo vệ các quyền; lợi ích hợp pháp của mình. Chủ thể của quyền tiếp cận thông tin: gồm hai loại chủ thể là chủ thể có quyền tiếp cận thông tin và chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin - Chủ thể có quyền tiếp cận thông tin: gồm tất cả mọi cá nhân, công dân, tổ chức. Với tư cách là chủ thể có quyền, họ nhận được những thông tin cần thiết qua các kênh truyền thông công khai, sẵn có mà không cần phải yêu cầu; được yêu cầu các chủ thể có nghĩa vụ cung cấp những thông tin mà mình cần hoặc quan tâm trong phạm vi khuôn khổ pháp luật cho phép; và được truyền đạt, chia sẻ quan điểm, thông tin với các chủ thể có quyền khác không phân biệt ranh giới hay hình thức phổ biến.
- Chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin: gồm các cơ quan công cộng. Theo quan điểm pháp lý của một số nước, chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin thậm chí có thể là tư nhân có hoạt động công quyền, kể cả các doanh nghiệp có sử dụng ngân sách công hoặc ngân sách nhà nước. Với tư cách là chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin, họ phải công khai những thông tin và hoạt động của mình một cách thường xuyên; có trách nhiệm cung cấp thông tin khi có yêu cầu của chủ thể có quyền; tôn trọng, không được ngăn cản quan hệ trao đổi, phổ biến thông tin của các chủ thể có quyền. Các hình thức công khai thông tin Để bảo đảm những thông tin phục vụ cho nhu cầu của mình, của cộng đồng, xã hội, mỗi chủ thể khác nhau có thể tự tìm kiếm, xử lý thông tin qua các kênh như: phương tiện thông tin đại chúng; các ấn phẩm khoa học; văn kiện, văn bản của các cơ quan nhà nước và các tổ chức khác nhau trong xã hộp; niêm yết công khai tại trụ sở của cơ quan nhà nước; thông qua mạng điện tử của cơ quan nhà nước; công bố cuộc họp; thông báo bằng văn bản; hay thông qua người phát ngôn chính thức của cơ quan, đơn vị.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giới hạn của việc công khai thông tin Mỗi cá nhân là một thành viên trong cộng đồng, xã hội, mỗi tổ chức là một bộ phận, thiết chế cấu thành xã hội luôn có nhu cầu trao đổi thông tin cho nhau. Chính từ đây nảy sinh quyền thu thập, xử lý, bảo quản thông tin, quyền sử dụng thông tin, quyền trao đổi thông tin, quyền yêu cầu, đòi hỏi các chủ thể khác cung cấp thông tin cho mình. Khi có những thông tin, các cá nhân, tổ chức vì những mục đích khác nhau lại có nhu cầu truyền thông tin của mình cho các chủ thể khác nhau xã hội. Tất cả những quyền này hợp thành "quyền về thông tin" của cá nhân, tổ chức.
Khi các cá nhân, tổ chức có quyền về thông tin, thì cũng cần phải ý thức được rằng quyền về thông tin cũng có phạm vi, giới hạn nhất định. Nếu vượt qua giới hạn của nó sẽ xâm phạm với quyền của chủ thể khác trong xã hội. Đó là những bí mật của cá nhân, tổ chức, nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và các tổ chức khác. Vì vậy, tự do thông tin không phải tất cả các tin tức của nhà nước đang nắm giữ sẽ công khai hết, và tiếp cận thông tin không đồng nhất với việc cá nhân, công dân được tự do tìm kiếm, tiếp cận tất cả các loại hồ sơ, tài liệu lưu giữ thông tin.
Việc thực hiện quyền này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt, và do đó có thể dẫn tới một số hạn chế nhất định do pháp luật quy định. Những giới hạn đó là: tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng. Nói chung, những giới hạn của quyền tiếp cận thông tin phải được pháp luật cho phép hay quy định trước. Điều đó có nghĩa là, việc giới hạn thực hiện quyền này phải được quy định cụ thể trong pháp luật của quốc gia.
Theo đó, chính phủ mỗi nước cần xác định rõ những loại thông tin nào là thông tin công cần phải được công khai và những loại thông tin nào cần phải được bảo mật. Nguyên tắc chung là không cần thiết phải giữ kín nếu như việc tiết lộ các loại thông tin đó không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tự, sức khỏe, đạo đức của công chúng; không phương hại tới quyền hoặc uy tín của người khác. Hiện nay, xu hướng chung các nước trên thế giới là áp dụng nguyên tắc chính phủ mở theo hướng minh bạch hóa, công khai hóa và tính trách nhiệm. Vì vậy, nếu việc can thiệp chỉ thuần túy dựa trên một quyết định hành chính, hay ý kiến chủ quan của cơ quan công quyền mà không rõ ràng, không có căn cứ pháp lý cụ thể có thể dẫn tới vi phạm quyền tiếp cận thông tin của cá nhân đã được pháp luật quốc tế quy định.
Khái quát quyền tiếp cận thông tin trong quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam Quyền tiếp cận thông tin đôi khi còn được gọi theo nghĩa rộng là quyền tự do thông tin hay gọi tắt là quyền được thông tin, là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự - chính trị. Nó được dùng để chỉ quyền của công dân được biết thông tin của Nhà nước, theo các cách thức trực tiếp lẫn gián tiếp, để thỏa mãn các nhu cầu cuộc sống của mình cũng như để bảo vệ và thực hiện các quyền năng khác đã được pháp luật ghi nhận. Quyền tiếp cận thông tin của con người được ghi nhận trong Tuyên bố toàn thế giới về quyền con người năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Các quyền này tiếp tục được khẳng định trong Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng; Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển; Công ước UNECE về tiếp cận thông tin môi trường.
Đến nay, ngày càng có nhiều điều ước, hiệp ước quốc tế, kế hoạch hành động, các tuyên bố quốc tế yêu cầu hoặc khuyến khích các quốc gia ban hành Luật tiếp cận thông tin. Nhiều quốc gia đã công nhận tầm quan trọng của tiếp cận thông tin với tư cách là một quyền của con người và cũng là một quyền quan trọng trong việc nâng cao khả năng điều hành, tăng cường tính minh bạch, phòng và chống tham nhũng trong các hoạt động của Chính phủ. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quyền tiếp cận thông tin hay quyền được thông tin đã được quy định trong rất nhiều Hiến pháp của các quốc gia. Trên 90 quốc gia có các quy định trong Hiến pháp trao cho các công dân quyền được tiếp cận thông tin.
Số lượng các Hiến pháp có các quy định này đã tăng đáng kể trong vòng 10 năm qua. Hầu hết Hiến pháp thành văn mới ban hành của các quốc gia đang chuyển đổi, đặc biệt là ở Đông Âu, Trung Âu và châu Mỹ La tinh đều có quy định về quyền tiếp cận thông tin. Ngoài ra, một số quốc gia đã ban hành Hiến pháp từ lâu đời, trong đó có Phần Lan và Na Uy, gần đây đã sửa đổi Hiến pháp của mình và bổ sung quy định về quyền tiếp cận thông tin. Ở một số quốc gia như Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Pakistan, Israel và Pháp, Tòa án tối cao đã ra phán quyết rằng, quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định và là một yếu tố điển hình của quyền tự do ngôn luận và quyền tự do báo chí.
Khoảng một nửa các quốc gia mà Hiến pháp quy định về quyền tiếp cận thông tin đã ban hành Luật về tiếp cận thông tin hoặc tự do thông tin. Một số Luật tự do thông tin hoặc tiếp cận thông tin nêu rõ là bản thân các quy định về quyền tiếp cận thông tin đã là các quy định hiến định, ví dụ như ở Thụy Điển, Luật Tự do báo chí là một trong bốn đạo luật nền tảng tạo thành Hiến pháp của Thụy Điển. Một số quốc gia quy định Luật thông tin có địa vị pháp lý cao hơn các luật khác. Ở Canada, Tòa án đã tuyên bố rằng Luật về Tiếp cận thông tin là quy định mang tính chất của Hiến pháp.