Chương 1 Những vấn đề lý luận về quyền được suy đoán vô tội giúp người đọc có cái nhìn toàn diện và khách quan về sự hình thành và phát triển của nhân quyền trong TTHS. Sự thừa nhận và phát triển của quyền được quy đoán vô tội diễn ra khác nhau theo từng khu vực, từng quốc gia, qua từng thời kỳ đặc trưng của lịch sử, xã hội. Mỗi khu vực và quốc gia có cách tiếp nhận và phát triển của quyền này ít nhiều khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Ví dụ, sự ghi nhận quyền được suy đoán vô tội có thể ở trong Hiến pháp hay trong các văn bản pháp luật, văn bản dưới luật hay đơn thuần chỉ là sự nhắc đến trong các tu chính án.
Tuy nhiên không thế phủ nhận, dù được ghi nhận như thế nào, chính thức hay không chính thức, quyền được suy đoán vô tội có vai trò đặc biệt quan trọng, và hiện đã trở thành một trong những nguyên tắc cốt lõi của TTHS ở các quốc gia. Nó có ý nghĩa căn cốt trong việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động tố tụng. Nó thu hút sự quan tâm cũng như tranh cãi rất lớn của giới chuyên môn, nhưng tất cả đều thừa nhận rằng việc bảo đảm quyền này là cần thiết để tiến tới một nền tư pháp văn minh. 14 Chương 2 QUYỀN ĐƯỢC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT CỦA MỘT SÓ QUỐC GIA 2.
Suy đoán vô tội trong truyên thông pháp luật các nước xã hội chủ nghĩa Trong những năm gần đây, vấn đề quyền suy đoán vô tội nhận được sự chú ý đặc biệt của các học giả Việt Nam. Điều đó đặt ra câu hỏi rằng phải chăng hệ thống pháp luật XHCN trước đây (mà Việt Nam vẫn đang kế thừa) có hay không ghi nhận quyền này? Mục này sẽ góp phần trả lời câu hởi trên, thông qua phân tích trường hợp cùa Liên Xô cũ. Sự thăng trầm của quyền được suy đoán trong hệ thống pháp luật của Liên Xô cũ Trong thực tế, pháp luật hình sự Liên Xô cũ đã ghi nhận quyền suy đoán vô tội từ trước khi có sự cải tổ (perestroika). Những quy định về vấn đề này pháp luật hình sự Liên Xô cũ được xem là chịu ảnh hưởng của các học thuyết về nhân quyền do Liên hợp quốc cổ vũ từ sau Thế chiến II.
Dù vậy, quy định về quyền suy đoán vô tội trong pháp luật hình sự Liên Xô cũ có một vài điểm khác biệt so với hệ thống TTHS của các nước TBNC. Hoạt động truy tố của các cơ quan tư pháp ở Liên Xô cũ dựa nhiều hơn vào các tiêu chuẩn về bằng chứng so với các tiêu chuẩn về nguyên nhân có thể có, và điều này được xem là tạo ra khó khăn trong việc áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội ở phiên tòa. Cụ thể, các Tòa án ở Liên Xô cũ trong phiên tòa thường đóng vai trò chủ động trong việc hỏi cung. Chức năng này có thế gây khó khăn cho thấm phán trong việc suy đoán bị can vô tội.
về vấn đề này, vào năm 1978, Tòa án Tối cao Liên Xô cũ đã có một tuyên bố quan trọng về suy đoán vô tội theo 15 hướng sửa đôi thông lệ đã nêu. Tuyên bô đó đã tác động mạnh mẽ lên vai trò của quyền được suy đoán vô tội trong hệ thống luật TTHS của Liên Xô cũ nhưng đã không được phân tích kĩ càng. Tuyên bố này quy định phạm vi của quyền suy đoán vô tội, ờ một số khía cạnh, thậm chí còn rộng hơn phạm vi của nguyên tắc này ở hệ thống pháp luật của nhiều nước TBCN trên thế giới. Dù thế nào thì sự tổn tại của nguyên tắc suy đoán vô tội trong hệ thống pháp luật TTHS của Liên Xô cũ là có thật, về vấn đề này, luật gia hàng đầu của Liên Xô cũ, giáo sư V.
Savitskii, đã từng tuyên bố rằng suy đoán vô tội đã được quy định cụ thể trong pháp luật của Liên Xô cũ, đồng thời phê phán “những nhà tư sàn nghiên cứu chính sách của Liên Xô [cũ] như George Fletcher đã chối bỏ sự tồn tại của nguyên tắc suy đoán vô tội ở Liên Xô [cũ], hay Harol Berman, người có quan điểm rằng “Pháp luật Liên Xô [cũ] không bao hàm học thuyết về suy đoán vô tội. Giáo sư Savitskii trích dẫn bài viết của Berman, trong đó tác giả cho rằng suy đoán vô tội có một vai trò khác trong phiên tòa xét xử của Liên Xô [cũ], bởi vì sự khác biệt về tố tụng giữa hệ thống pháp luật châu Âu lục địa và hệ thống thông luật (pháp luật của Liên Xô cũ được xem là tương tự hệ thống pháp luật của châu Âu lục địa). Savitskii cho rằng quyền được suy đoán vô tội tồn tại trong pháp luật Liên Xô [cũ] mặc dù không phải theo cách hiểu của trong pháp luật của Hoa Kỳ. Dù vậy, một số nghiên cứu khác đã chứng minh rằng pháp luật Liên Xô cũ thực ra ngay từ đầu đã có xu hướng bác bở quyền suy đoán vô tội.
Cụ thể, trong thời kỳ ngay sau Cách mạng tháng 10 Nga năm 1917, học thuyết về chuyên chính vô sản đã chi phối mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực pháp luật, và từ góc độ của học thuyết này, các luật gia Xô Viết cũ đã nhận thấy quyền suy đoán vô tội quá nghiêng về phía bị can, bị cáo và có thề bị sử dụng để 16 chông lại nhà nước chuyên chính vô sản, vì thê cân phải bị bác bỏ. Tadevosian đã lập luận chống lại những người đề xướng quyền suy đoán vô tội rằng quyền đó “đặt lên vai nhà nước gánh nặng nghĩa vụ chứng minh tội phạm, và có thể giải phóng bị cáo khỏi bất cứ nghĩa vụ nào, vì thế làm suy giảm “lợi ích của nhà nước và xã hội’”. Một số luật gia khác của Liên Xô cũ trong thòi kỳ này cũng không ủng hộ quyền suy đoán vô tội với lý do là nó quá hình thức và trừu tượng. Họ sợ rằng quyền giả định vô tội sẽ cho phép tòa án có một phán quyết dễ dàng nếu việc thu thập chứng cứ bị bế tắc trong một vụ án khó khăn.
Cụ thể, trong những vụ án như vậy, tòa án có thể tránh được những vấn đề nan giải của mình đơn giản bằng cách tuyên bố rằng có sự nghi ngờ và phán quyết vô tội. Ngoài ra, các tác giả này cũng lập luận rằng ý nghĩa của quyền được suy đoán vô tội cũng không rõ ràng, vì thế xung đột với quan niệm Marxist về sự vững vàng của sự thật. Nhưng nguyên nhân sâu xa hơn góp phần vào sự phản bác quyền suy đoán vô tội ở Liên Xô cũ là thái độ tiêu cực về các quyền cá nhân, dựa trên niềm tin rằng những quyền cá nhân được phát triển bởi xã hội tư bản, nơi mà họ tuyên bố áp dụng cho tất cả mọi người nhưng lại chỉ được thực thi trên thực tế bởi giai cấp tư sản. Dù vậy, vào năm 1948, Liên Xô cũ đã ủng hộ việc bổ sung quyền suy đoán vô tội vào Tuyên ngôn Nhân quyền phổ quát 1948.
Sự đồng thuận về vấn đề này đã xuất hiện và được xúc tiến ở các quốc gia kể từ khi còn diễn ra thế chiến thứ hai, bởi sự khao khát thúc đẩy quyền con người như một đối trọng với sự vi phạm nhân quyền khủng khiếp của các chế độ phát xít trong các thập niên 1930 và 1940. Kết quả là khi luật TTHS Liên Xô cũ được sửa đổi vào cuối thập niên 1950, một vài chuyên gia ủng hộ quyền suy đoán vô tội đã cố gắng thể hiện nó bằng việc quy định trong luật. Nhưng họ tiếp tục bị phản bác bởi những người khác với lập luận ràng quyền suy đoán vô tội không phù hợp với pháp luật Liên Xô cũ vì nội hàm của nó không rõ ràng. Ví 17 dụ, một giáo sư là Trusov không đông thuận với việc thêm quyên suy đoán vào nguyên tắc của luật hình sự Xô-viết cụ, bằng cách nêu ra ví dụ về một người bị bắt vì thực hiện tội phạm và không thể coi người đó vô tội.
Rốt cục là trong BLTTHS Liên Xô cũ giai đoạn 1958-1965 đã bao hàm “sự bảo đảm thể hiện suy đoán vô tội’ nhưng không chứa thuật ngữ “suy đoán vô tội”. Luật kết hợp những định đề mà nhìn chung được coi là sự thể hiện của suy đoán vô tội như: bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội, toà án chỉ kết tội dựa trên bằng chứng tại phiên tòa và không kết tội dựa trên giả định. Hiển pháp Liên Xô cũ năm 1977, trong chương về Tòa án nêu một số quyền cá nhân rất cụ thể, nhưng quyền suy đoán vô tội cũng không được quy định rõ ràng. Dù vậy, bản Hiến pháp này cũng quy định hai điều, được cho là kết họp sự suy đoán vô tội, đó là: Điều 158 quy định rằng bị can có quyền kháng cáo.
Điều 160 quy định rằng không ai có thể bị coi là có tội ngoại trừ đây là phán quyết của Tòa án. Vào năm 1978, Tòa án Tối cao Liên Xô cũ đã từng viện dẫn một số luật liên quan đến quyền suy đoán vô tội, và lần đầu tiên giải thích cụ thề về nội hàm của sự suy đoán vô tội. Đây cũng là “sự giải thích” luật đầu tiên của Tòa án, trong đó cho thấy quy định về vấn đề này trong Hiến pháp chưa rõ ràng và xác định khá cụ thề về nội dung của sự suy đoán vô tội. Sở dĩ có những thay đổi nêu trên là vì vào năm 1973, Liên Xô cũ tham gia Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị 1966.
Công ước này quy định: “Mọi người bị cáo buộc đều có quyền được suy đoán vô tội cho đến khi được chứng minh là có tội theo luật định” [33]. Theo pháp luật cua Liên Xô cũ, các cơ quan nhà nước can tuân thủ các quy định trong các điều ước quốc tế mà nhà nước đã tham gia mà liên quan đến hoạt động của mình. Vì vậy, toà án Liên Xô cũ phải tuân thủ quyền suy đoán vô tội theo Công ước về quyền dân sự, chính trị. 18 Theo Fletcher, sự thay đôi nêu trên phản ánh sự đâu tranh quyên lực ở cấp trung ương giữa Tòa án và cơ quan công tố (Viện kiểm sát) ở Liên Xô cũ.
Việc thừa nhân quyền suy đoán vô tội sẽ tác động lên cách thức tổ chức hoạt động và kết quả của vụ án mà có sự đối nghịch giữa hai nhánh lớn trong hệ thống tư pháp cùa Liên Xô cũ đó là: Viện kiểm sát và Tòa án.