Chương 1 nêu lên khái niệm và phân tích các đặc điểm cơ bản của quyền sở hữu công nghiệp và quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại. Ngoài ra, chương này còn phân tích những nội dung cơ bản về quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại. Khái niệm và đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp 1. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp Trong thời đại ngày nay, phần lớn hoạt động sản xuất kinh doanh đều gắn với các đối tƣợng của quyền sở hữu công nghiệp nhƣ sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng.
và theo đó, việc nhận diện các quyền sở hữu công nghiệp, giải quyết xung đột, tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp đã đƣợc điều chỉnh bởi pháp luật không chỉ của mỗi quốc gia mà còn là vấn đề pháp luật có tính toàn cầu. Bởi các giao dịch thƣơng mại, kinh tế hiên nay không còn đƣợc xác định theo ranh giới lãnh thổ của từng quốc gia mà là vấn đề toàn cầu trong bối cảnh của sự phát triển bùng nổ về công nghệ và trí tuệ nhân tạo hiện nay. Việc ghi nhận quyền sở hữu công nghiệp nhằm bảo vệ quyền của những ngƣời hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh có ứng dụng các tài sản trí tuệ cũng là một phƣơng thức thúc đẩy các hoạt động thƣơng mại phát triển và góp phần tăng trƣởng cho nền kinh tế nƣớc nhà. Quyền sở hữu công nghiệp đƣợc hiểu theo hai nghĩa: - Hiểu theo nghĩa khách quan: Quyền sở hữu công nghiệp là pháp luật về SHCN hay nói cách khác là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội có đối tƣợng là các sản phẩm trí tuệ do con ngƣời sáng tạo ra và đƣợc pháp luật ghi nhận là các đối tƣợng sở hữu công nghiệp.
Có thể phân chia các quy phạm pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp theo các nhóm sau: Thứ nhất: Nhóm các quy định liên quan đến việc xác định tiêu chuẩn một kết quả sáng tạo là đối tƣợng của quyền sở hữu công nghiệp; Thứ hai: Nhóm các quy định liên quan đến thẩm quyền, trình tự, thủ tục xác lập đối tƣợng sở hữu công nghiệp; Thứ ba: Nhóm các quy định liên quan đến nội dung quyền của các chủ thể đối với các đối tƣợng SHCN (bao gồm quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu, tác giả, các chủ thể khác đối với các đối tƣợng SHCN đã đƣợc xác lập); Thứ tư: Các quy phạm liên quan đến việc dịch chuyển các đối tƣợng sở hữu công nghiệp; Thứ năm: Các quy phạm liên quan đến việc bảo vệ quyền của các chủ thể đối với các đối tƣợng sở hữu công nghiệp. Với nghĩa này, quyền sở hữu công nghiệp không chỉ là các quy định trong lĩnh vực luật tƣ mà thuộc rất nhiều các văn bản pháp luật khác nhau, thuộc nhiều ngành luật khác nhau tạo thành thể thống nhất điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến các đối 9 tƣợng SHCN nhƣ luật hình sự, luật hành chính. Ngoài ra, quyền sở hữu công nghiệp không những đƣợc các quy phạm pháp luật của quốc gia điều chỉnh mà chúng còn đƣợc điều chỉnh bởi các điều ƣớc quốc tế song phƣơng và đa phƣơng. - Hiểu theo nghĩa chủ quan: Quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với các đối tƣợng sở hữu công nghiệp.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật SHTT thì: “Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lí, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”. Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh tuy không đƣợc coi là một trong các đối tƣợng cụ thể của quyền sở hữu công nghiệp nhƣng nó là sự nảy sinh tất yếu trong quá trình các chủ thể thực hiện quyền đối với các đối tƣợng sở hữu công nghiệp, do vậy, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đƣợc coi là nội dung cơ bản của quyền sở hữu công nghiệp. Với ý nghĩa này, quyền sở hữu công nghiệp là quyền, nghĩa vụ của các chủ thể liên quan đến việc sáng tạo, sử dụng, chuyển dịch các đối tƣợng sở hữu công nghiệp. Các quyền này bao gồm các quyền nhân thân và quyền tài sản của các chủ thể trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; quyền ngăn chặn những hành vi xâm phạm hoặc cạnh tranh không lành mạnh đối với các quyền của những ngƣời sáng tạo ra hoặc ngƣời sử dụng hợp pháp các đối tƣợng đó.
Quyền sở hữu công nghiệp còn đƣợc hiểu dƣới góc độ là quan hệ pháp luật với đầy đủ các yếu tố cấu thành của một quan hệ nhƣ chủ thể, khách thể, nội dung. Quyền sở hữu công nghiệp chỉ đƣợc hình thành trên cơ sở sự tác động của các quy phạm pháp luật về SHCN đối với các kết quả của hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ. Nhƣ vậy, chủ thể của quyền sở hữu công nghiệp là tất cả các cá nhân, tổ chức nhƣ tác giả hay chủ sở hữu các đối tƣợng SHCN hoặc tổ chức, cá nhân đƣợc chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp. Khách thể của quyền sở hữu công nghiệp là các kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ đƣợc áp dụng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh nhƣ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lí, tên thƣơng mại, bí mật kinh doanh.
Nội dung của quyền sở hữu công nghiệp là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quyền sở hữu công nghiệp đƣợc pháp luật ghi nhận và bảo hộ.2 Đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp a. Đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp luôn gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh Một trong những tiêu chí để phân chia kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ thành quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp chính là căn cứ vào tính hữu ích hay khả năng ứng dụng của chúng. Nếu các đối tƣợng của quyền tác giả chủ yếu đƣợc áp dụng trong các hoạt động giải trí tinh thần thì các đối tƣợng của quyền sở hữu công nghiệp lại đƣợc ứng dụng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh thƣơng mại. Tại Điều 1 Công ƣớc Paris về bảo hộ SHCN đã quy định: “SHCN phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất, không những chỉ áp dụng cho công nghiệp và thương mại theo đúng nghĩa của chúng mà cho cả các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác và tất cả các sản phẩm công nghiệp và sản phẩm tự nhiên như rượu, ngũ cốc, thuốc lá, hoa quả, gia súc, khoáng sản, nước khoáng, bia và bột”.
Chính vì lẽ đó mà một trong những điều 10 kiện để đƣợc bảo hộ của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và thiết kế bố trí là chúng phải có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị cho đời sống con ngƣời. Còn đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lí, tên thƣơng mại, bí mật kinh doanh phải chứa đựng các chỉ dẫn thƣơng mại để kết nối giữa nhà sản xuất hay cung cấp dịch vụ đối với ngƣời tiêu dùng. Chủ thể nào nắm giữ đƣợc các đối tƣợng này sẽ có những lợi thế cạnh tranh hơn hẳn những chủ thể khác. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trƣờng với mức độ cạnh tranh gay gắt nhƣ hiện nay thì việc quan tâm, đầu tƣ và trở thành chủ sở hữu các đối tƣợng SHCN là công việc thực sự cần thiết.
Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập qua thủ tục đăng kí tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Quyền sở hữu công nghiệp chỉ đƣợc pháp luật bảo hộ khi chúng đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc chính thức cấp văn bằng bảo hộ, trừ những trƣờng hợp khác do luật định1. Đăng kí để đƣợc cấp văn bằng bảo hộ là cách thức để công khai hoá tình trạng của loại tài sản vô hình này đối với các chủ thể khác, là cách thức để thông báo tài sản này đã thuộc về chủ thể xác định, qua đó tránh tình trạng bị ngƣời khác chiếm đoạt. Văn bằng bảo hộ này chính là chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền của mình khi có hành vi tranh chấp quyền xảy ra. Khác với việc đăng ký quyền tác giả là tự nguyện, mang tính khuyến khích, còn việc đăng kí quyền sở hữu công nghiệp là thủ tục bắt buộc.
Nếu một ngƣời đã đầu tƣ công sức, tài chính để tạo ra các đối tƣợng SHCN nhƣng lại không tiến hành đăng kí quyền cho đối tƣợng đó thì sẽ không đƣợc pháp luật bảo hộ trong trƣờng hợp có ngƣời khác đã thực hiện đăng kí trƣớc (trừ một số trƣờng hợp ngoại lệ). Họ chỉ đƣợc hƣởng quyền của ngƣời sử dụng trƣớc nếu thành công trong việc chứng minh họ đã tạo ra các đối tƣợng đó (đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp) một cách độc lập trƣớc ngày đơn đăng kí đƣợc nộp. Hơn nữa, thông qua thủ tục đăng kí, Nhà nƣớc còn nhằm mục đích khuyến khích các hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và thƣơng mại. Việc đăng tải trên công báo các thông tin về các đối tƣợng sẽ đƣợc cấp văn bằng bảo hộ tạo điều kiện cho các chủ thể khác trong xã hội tiếp cận đƣợc các tri thức hiện đại và tiên tiến nhất, làm căn cứ cho các nghiên cứu, phát minh tiếp theo.
Quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ có thời hạn Khác với loại tài sản hữu hình (vật, tiền, các giấy tờ có giá.), các đối tƣợng SHCN thƣờng đƣợc bảo hộ trong khoảng thời gian xác định (tuy có một số loại đối tƣợng không xác định thời hạn nhƣ bí mật kinh doanh, tên thƣơng mại, nhãn hiệu nổi tiếng, chỉ dẫn địa lý). Các đối tƣợng đƣợc bảo hộ theo thời hạn là các đối tƣợng xác định đƣợc tác giả sáng tạo ra đối tƣợng đó; những đối tƣợng SHCN không xác định tác giả sáng tạo đƣợc bảo hộ không thời hạn hoặc có thời hạn với những điều kiện nhất định. Có thể phân loại các đối tƣợng SHCN thành các đối tƣợng có xác lập quyền tác giả hay không xác lập quyền tác giả. Đối với đối tƣợng quyền sở hữu công nghiệp có ghi nhận quyền của tác giả sáng tạo ra đối tƣợng đó thì việc quy định thời hạn bảo hộ là cần thiết.