Chương 1 LÝ LUẬN VỀ QUYỀN HƢỞNG LỢI ÍCH CỦA TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ ỨNG DỤNG CỦA CHÚNG 1. Khoa học và lợi ích, ứng dụng của khoa học 1. Khoa học Có nhiều cách diễn đạt khác nhau trong định nghĩa “khoa học” mà từ điểm chung của các định nghĩa này có thể hiểu khái quát: Khoa học là hệ thống tri thức tích luỹ trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài, cũng như hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực [29]. Có thể thấy “Khoa học” đã được định nghĩa từ góc độ phổ thông nhất, khái quát nhất nhưng chưa từng được xác định theo khía cạnh hướng tới các mục đích về quyền con người.
Vấn đề này được đề cập trong Tuyên bố Venice trong đó khẳng định sự cần thiết phải định nghĩa khoa học dưới lăng kính quyền con người. Theo khuyến nghị của UNESCO năm 1974 về địa vị của các nhà nghiên cứu khoa học: Khoa học là hoạt động của con người theo cá nhân hay theo nhóm nhỏ hoặc lớn, thông qua việc nghiên cứu có chủ định về những hiện tượng được quan sát sẽ tạo ra những nỗ lực có tổ chức để khám phá và làm chủ chuỗi quy luật, đem đến sự hòa hợp trong một thể tương tác những phân hệ mang tính hệ quả của kiến thức bằng sự phản ánh và khái niệm hóa một cách có hệ thống, mà thường được biểu hiện rộng rãi bằng các biểu tượng toán học; và nhờ vậy sẽ trang bị cho chính nó, vì lợi ích của chính nó, cơ hội để ứng dụng những hiểu biết về các quy trình và hiện tượng xuất hiện trong tự nhiên và trong xã hội [83]. Tuyên bố Venice về quyền hưởng lợi ích của tiến bộ khoa học và ứng dụng của chúng và báo cáo năm 2012 trước Hội đồng Nhân quyền của Farida Shaheed, 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com báo cáo viên đặc biệt trong lĩnh vực các quyền về văn hóa, phản ánh hiểu biết chung về "khoa học" như một dạng kiến thức. Ngoài ra, báo cáo viên đặc biệt cho rằng khoa học bao gồm cuộc sống, vật lý, khoa học về hành vi và thể chất cũng như các ngành khoa học xã hội [73, đoạn 24].
Biên bản của uỷ ban soạn thảo (The travaux préparatoires) ICESCR ghi lại các cuộc đàm phán xây dựng nội dung Điều 15 chỉ ra rằng "khoa học" bản thân nó không nên được gán cho một mục đích xã hội hoặc mục đích cụ thể khác ngoài sự phát triển tiếp theo của khoa học. Đồng thời, Tuyên bố Venice nhấn mạnh tại Mục III.8 rằng khoa học "không chỉ gia tăng kiến thức” mà còn "tăng cường các điều kiện cho hoạt động khoa học và văn hóa tiếp theo" [88, Mục III. Nói cách khác, khoa học mang tính chất kế thừa. Khoa học được xem như là hoạt động tập thể của các nhà nghiên cứu trong các thế hệ kế tiếp - những người tiếp tục xây dựng tri thức mới trên cơ sở kiến thức và phát hiện của các nhà khoa học đi trước.
Theo quan điểm tích lũy kiến thức khoa học này, phương pháp khoa học được tạo ra được dùng để kiến tạo các lý thuyết khoa học, mà sau đó được thử nghiệm và đánh giá cho phép chúng trở thành cơ sở cho các kiến thức mới hơn. Khái niệm “khoa học” đã từng được phân tích sâu hơn trong các công trình nghiên cứu xã hội học của khoa học trong thời kỳ trước và sau Thế chiến II mà ảnh hưởng đến môi trường, bối cảnh soạn thảo UDHR và ICESCR. Trong Tuyển tập các bài tiểu luận của Robert Merton trong “Xã hội hoá về Khoa học”, Robert Merton xem xét khoa học như hoạt động chung đưa đến các kiến thức cơ bản về thế giới. Merton liên kết khoa học với (1) tập hợp các phương pháp nghiên cứu đặc trưng mà qua đó các tri thức được chứng nhận; (2) kho kiến thức tích lũy được bắt nguồn từ các ứng dụng của các phương pháp này; (3) tập hợp các giá trị và tập tục văn hoá chi phối các hoạt động khoa học; hoặc (4) sự kết hợp bất kỳ của những yếu tố nêu trên [67].
Ông nêu lên bốn tính chất đặc trưng của khoa học đó là: tính vô tư (không vụ lợi), tính phổ quát, chủ nghĩa cộng sản và thái độ hoài nghi có tổ chức. Vô tư là nguyên tắc trong đó các nhà khoa học nên có động cơ duy nhất là để tìm kiếm sự thật thay bởi tiến hành nghiên cứu khoa học để thúc đẩy sở thích hay lợi ích cá nhân. Tính phổ quát thể hiện rằng giá trị khoa học không liên quan đến hoặc phụ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuộc vào một nền văn hóa, chủng tộc, giới tính, hay một xã hội đặc biệt nào. Tính cộng sản được hiểu là những thành quả nghiên cứu khoa học thuộc về tất cả mọi người.
Sự hoài nghi có tổ chức đề cập đến sự cần thiết phải kiểm tra một cách nghiêm túc và kỹ lưỡng tất cả niềm tin và các giả định khoa học. Kể từ những năm 1970 đã có nhiều cuộc thảo luận học thuật giữa các triết gia, nhà sử học, nhà xã hội học và các khoa học về vai trò của khoa học trong một xã hội dân chủ, khoa học có nên chăng cần được rà soát và kiểm tra kỹ lưỡng đối chiếu với các giá trị về đạo đức, chính trị, xã hội và tác động như thế nào đến cuộc sống của con người. Bên cạnh sự thừa nhận tính khách quan của khoa học và những đóng góp mà khoa học mang lại, cũng cần thừa nhận rằng tiến bộ khoa học không nhất thiết phải thúc đẩy sự thịnh vượng của con người bởi bản chất của nghiên cứu khoa học nói chung là hướng tới việc theo đuổi kiến thức chứ không phải là mục tiêu cải tiến cho con người. Bên cạnh đó có những quan điểm cho rằng bối cảnh xã hội mà các tri thức khoa học được tạo nên vẫn làm ảnh hưởng đến các tri thức khoa học được tạo ra – nói cách khác dù khoa học có các giá trị nhất định nhưng không thể ngăn cách các nhà khoa học khỏi bị ảnh hưởng bởi chính trị, xã hội, văn hóa, đạo đức và các yếu tố kinh tế.
Lợi ích của tiến bộ khoa học và ứng dụng của chúng Theo biên bản của uỷ ban soạn thảo ICESCR, các 'lợi ích' của khoa học không chỉ bao gồm lợi ích vật chất. Ông Havet, đại diện UNESCO khi tham gia dự thảo ICESCR, đề cập đến phổ biến kiến thức khoa học như tiềm năng để "đóng góp phần lớn vào việc loại bỏ các định kiến nhất định, ví dụ như thành kiến về chủng tộc, mà cấu thành mối đe dọa trực tiếp đến toàn bộ cấu trúc của các quyền con người". Báo cáo viên đặc biệt Farida Shaheed xác định một số lợi ích phi vật chất khác của khoa học trong đó có “sự tham gia”. Cô cho rằng các „lợi ích‟ của khoa học bao gồm không chỉ các kết quả khoa học và thành quả mà còn là quá trình khoa học, phương pháp và công cụ của khoa học [73].
Có quan điểm tương tự như vậy, Hội các nhà khoa học Hoa Kỳ (American Scientists) liệt kê 10 loại lợi ích của khoa học và ứng dụng của khoa học thường được đề cập nhất, bao gồm: 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nâng cao kiến thức 3. Sinh thái, môi trường, động vật hoang dã 4. Giáo dục và đào tạo 5.
Các khái niệm cơ bản dựa trên kinh nghiệm đối với pháp luật / chính sách / chương trình hành động 6. Các ứng dụng công nghệ / cơ sở hạ tầng 7. Các hiểu biết về hành vi cá nhân (không phải về sức khỏe) 8. Thúc đẩy các phương pháp và công nghệ cho khoa học 9 Ảnh hưởng về/đối với văn hóa 10.
Các tác động kinh tế [31]. Trong đó tác giả đưa ra phân tích về 5 lợi ích thường được đề cập nhất của khoa học và ứng dụng của chúng: - Y tế Khoa học và kỹ thuật đã giúp con người hiểu biết hơn về bản chất cơ bản của sức khỏe và bệnh tật, từ việc “vạch ra sự bùng nổ của dịch bệnh, tìm hiểu nguồn dịch và đưa ra giải pháp”, đến việc “xác định tâm thần là một loại bệnh dịch chứ không phải là một vấn đề cá nhân hoặc một vấn đề đạo đức”, hay "tiềm năng hiểu và giải thích cách tương tác của các quá trình vật lý và sinh học ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe và sự phong phú của sinh vật - bao gồm cả con người". Có thể kể đến ví dụ các lợi ích từ ứng dụng của tiến bộ khoa học trong lĩnh vực này như ứng dụng làm lạnh thuốc; hay vai trò bổ sung của phương pháp tiếp cận khoa học đa dạng như sự phát triển của các loại vắc-xin và tâm lý khi sử dụng các loại vắc-xin. - Gia tăng tri thức Các phương pháp khoa học đã được áp dụng để tiết lộ những chân lý mới về tất cả mọi thứ từ sự bao la của thiên hà, sự rung động của các nguyên tử trong các cấu trúc vững chắc, sự tác động của vi khuẩn và sự phức tạp của tương tác giữa con người trong hệ thống xã hội.
Ngoài ra, các tri thức được sử dụng để lập kế hoạch và 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dự đoán tương lai, đặc biệt là những thay đổi về môi trường, qua đó góp phần đảm bảo sự sống còn của con người. Kiến thức khoa học cũng đã được xem là yếu tố cơ bản tác động đến quyền công dân. Các phương pháp khoa học đã làm tăng tư duy phê phán và kỹ năng lập luận phân tích, từ đó trao quyền cho thành phần tư nhân sử dụng thông tin một cách hiệu quả trong môi trường xã hội của họ. - Sinh thái / môi trường / động vật hoang dã Khoa học và công nghệ là công cụ cần thiết để giảm thiểu và ngăn ngừa sự phá hủy của môi trường tự nhiên, và để đáp ứng với các điều kiện thay đổi của thế giới với dân số ngày càng tăng nhanh và nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng hạn chế, để giảm sự căng thẳng giữa sản xuất năng lượng và bảo vệ môi trường… - Giáo dục và đào tạo Khoa học mang lại lợi ích quan trọng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo.
Ví dụ, chiến lược về lý thuyết tâm lý và can thiệp xã hội được áp dụng trong việc thiết lập trường học để tăng cường quá trình giáo dục và thúc đẩy các kỹ năng giao tiếp xã hội hiệu quả cho học sinh, sinh viên ở tất cả các lứa tuổi.