Tổng quan nghiên cứu

Thị trường lao động Việt Nam ghi nhận tỷ lệ tham gia của lực lượng lao động nữ ở mức ấn tượng với 70,9% vào năm 2019, vượt trội so với mức trung bình 47,2% của toàn cầu và 43,9% của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Mặc dù khoảng cách tham gia thị trường lao động giữa nam và nữ duy trì ở mức 9,5 điểm phần trăm trong một thập kỷ qua, chất lượng việc làm và mức độ thụ hưởng quyền lợi của phụ nữ vẫn còn nhiều bất cập. Số liệu thực tế chỉ ra rằng có tới 19,4% lao động nữ đang làm công việc gia đình không được trả công, cao hơn gấp 2,1 lần so với tỷ lệ 9,2% ở nam giới.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là khoảng cách giữa các quy định tiến bộ trong Bộ luật Lao động năm 2019 và thực tiễn thực thi quyền của lao động nữ tại các doanh nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về quyền lao động của phụ nữ; đánh giá toàn diện thực trạng thực thi các quyền cơ bản như quyền việc làm, quyền được đào tạo, quyền chống phân biệt đối xử và chế độ thai sản; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện văn bản dưới luật nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ lao động nữ.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quan hệ lao động chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Lao động năm 2019 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành trên phạm vi toàn quốc trong giai đoạn 2012-2022. Ý nghĩa của nghiên cứu gắn liền với việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thành các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, cụ thể là nâng tỷ lệ lao động nữ làm công ăn lương lên 50% vào năm 2025 và đạt 60% vào năm 2030, đồng thời giảm tỷ trọng lao động nữ trong nông nghiệp xuống dưới 25% vào năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết bình đẳng giới thực chất dựa trên tinh thần Điều 11 Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) và Điều 26 Hiến pháp năm 2013. Bên cạnh đó, nghiên cứu kết hợp lý thuyết tiêu chuẩn lao động quốc tế của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), đặc biệt là Công ước số 29 và Công ước số 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức, cùng Công ước số 183 về bảo vệ thai sản.

Nghiên cứu làm rõ 5 khái niệm nòng cốt trong khoa học pháp lý lao động:

  1. Lao động nữ: Người lao động mang giới tính nữ tham gia quan hệ lao động theo hợp đồng có hưởng lương.
  2. Phân biệt đối xử trong lao động: Hành vi phân biệt, loại trừ hoặc ưu tiên dựa trên giới tính, tình trạng thai sản hoặc hôn nhân gây ảnh hưởng đến cơ hội việc làm theo Khoản 8 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019.
  3. Quấy rối tình dục tại nơi làm việc: Hành vi có tính chất tình dục chưa được sự đồng thuận theo quy định tại Khoản 9 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 và Điều 84 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
  4. Sa thải suy đoán: Tình trạng người sử dụng lao động cố tình tạo ra các điều kiện làm việc bất lợi hoặc áp lực tinh thần để ép buộc người lao động phải tự chấm dứt hợp đồng.
  5. Chế độ thai sản: Hệ thống các bảo đảm pháp lý về y tế, thời gian nghỉ ngơi và việc làm nhằm duy trì chức năng sinh sản và chăm sóc con cái của người phụ nữ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, báo cáo Điều tra Lao động - Việc làm năm 2018 và số liệu công bố năm 2021 của Tổng cục Thống kê, cùng các báo cáo chuyên đề của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm hơn 50 văn bản pháp lý chuyên ngành và dữ liệu thống kê lao động trải dài trên 6 vùng kinh tế - xã hội trọng điểm. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng để khảo sát các nhóm ngành tập trung mật độ lao động nữ cao như dệt may, da giày và chế biến thủy sản.

Phương pháp phân tích được lựa chọn gồm phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp diễn dịch - quy nạp và so sánh luật học. Lý do lựa chọn kết hợp các phương pháp này là nhằm đối chiếu những điểm mới của Bộ luật Lao động năm 2019 so với Bộ luật Lao động năm 2012, so sánh kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia phát triển như Australia và Hàn Quốc, từ đó đánh giá sự tương thích của pháp luật quốc gia với các cam kết quốc tế trong thời gian nghiên cứu từ năm 2018 đến năm 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, trình độ chuyên môn của lực lượng lao động nữ còn thấp và có sự chênh lệch lớn giữa các vùng miền. Mặc dù lực lượng lao động dồi dào, chỉ có 20% lao động nữ có việc làm đã qua đào tạo vào năm 2019, thấp hơn mức 25% của nam giới. Tỷ lệ này tại khu vực nông thôn chỉ đạt 12,3%, chưa bằng một phần ba mức 36,3% tại khu vực thành thị. Theo các vùng kinh tế, tỷ lệ lao động nữ qua đào tạo thấp nhất là Đồng bằng sông Cửu Long với 11,9%, trong khi Đồng bằng sông Hồng dẫn đầu với 27,8%.

Thứ hai, cơ cấu việc làm cho thấy sự bất lợi rõ nét của lao động nữ trong tiếp cận việc làm ổn định. Chỉ có 43% lao động nữ thuộc nhóm làm công hưởng lương, so với 51,4% ở nam giới. Lao động nữ làm việc trong khu vực nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn tới 35,9%, tạo nên nguy cơ mất an toàn an sinh xã hội khi chuyển đổi cơ cấu kinh tế.

Thứ ba, tình trạng vi phạm thời giờ làm việc và làm thêm giờ diễn ra phổ biến tại các ngành thâm dụng lao động. Báo cáo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho thấy người lao động nữ ngành dệt may, da giày phải làm việc từ 12 đến 14 giờ mỗi ngày; thời gian làm thêm dao động 600 đến 1.000 giờ mỗi năm, vượt xa mức trần pháp luật cho phép từ 200 đến 300 giờ mỗi năm.

Thứ tư, khoảng trống pháp lý trong nhận diện quấy rối tình dục và các hành vi sa thải suy đoán. Chế tài phạt tiền từ 5.000.000 đồng đối với hành vi phân biệt đối xử theo Nghị định 12/2022/NĐ-CP chưa đủ sức răn đe, đồng thời thiếu cơ chế xử lý trường hợp người sử dụng lao động gây sức ép gián tiếp buộc lao động nữ mang thai phải tự ý thôi việc.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu phân bổ vị thế việc làm khi trực quan hóa qua biểu đồ cột chồng sẽ thể hiện rõ rệt sự chênh lệch giới, trong đó nhóm lao động gia đình không hưởng lương của nữ (19,4%) chiếm diện tích gấp hơn 2 lần nam giới (9,2%). Sự phân bổ qua bảng số liệu 6 vùng kinh tế cũng phản ánh vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên (13,6%) đang chịu thiệt thòi lớn nhất về tiếp cận giáo dục nghề nghiệp.

Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ định kiến giới xã hội khi 47,5% phụ nữ không tham gia hoạt động kinh tế viện dẫn lý do gia đình, so với chỉ 18,9% ở nam giới. Bên cạnh đó, áp lực chi phí của người sử dụng lao động khiến họ e ngại các nghĩa vụ phúc lợi thai sản. So sánh với pháp luật quốc tế, pháp luật Australia đã ghi nhận cơ chế sa thải suy đoán và Hàn Quốc đã ban hành Luật cấm bắt nạt công sở từ năm 2019, cho thấy pháp luật Việt Nam cần sớm bổ sung các công cụ pháp lý để bảo vệ toàn diện quyền của lao động nữ.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Cụ thể hóa hành vi phân biệt đối xử và sa thải suy đoán trong văn bản dưới luật Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 145/2020/NĐ-CP trong giai đoạn 2023-2025. Nội dung sửa đổi cần liệt kê chi tiết các hành vi phân biệt đối xử như phát que thử thai, yêu cầu cam kết thời gian kết hôn khi tuyển dụng và định nghĩa rõ sa thải suy đoán. Mục tiêu hướng tới là giảm 80% các tranh chấp lao động liên quan đến đơn phương chấm dứt hợp đồng trá hình.

  2. Nâng cao tỷ lệ đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ nông thôn Tổng cục Giáo dục Nghề nghiệp phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam triển khai đề án đào tạo kỹ năng nghề theo Khoản 5 Điều 135 Bộ luật Lao động năm 2019. Lộ trình thực hiện từ năm 2023 đến năm 2030, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động nữ nông thôn qua đào tạo từ 12,3% lên 25% vào năm 2025 và đạt 35% vào năm 2030, hỗ trợ giảm tỷ trọng lao động nữ trong nông nghiệp xuống dưới 25%.

  3. Tăng cường thanh tra và nâng chế tài xử phạt vi phạm thời giờ làm việc Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Công đoàn các cấp tiến hành thanh tra định kỳ các doanh nghiệp dệt may, da giày. Áp dụng mức xử phạt tối đa theo Nghị định 12/2022/NĐ-CP và đình chỉ hoạt động các dây chuyền ép người lao động làm thêm từ 600 đến 1.000 giờ mỗi năm. Mục tiêu trước năm 2026 đưa tỷ lệ vi phạm thời giờ làm thêm vượt trần 300 giờ xuống dưới 10%.

  4. Bắt buộc chuẩn hóa quy trình phòng chống quấy rối tình dục tại doanh nghiệp Người sử dụng lao động và Công đoàn cơ sở có trách nhiệm lồng ghép bộ quy tắc chống quấy rối tình dục theo Điều 86 Nghị định 145/2020/NĐ-CP vào 100% nội quy lao động và Thỏa ước lao động tập thể. Đảm bảo đến năm 2025 có ít nhất 90% doanh nghiệp tại các khu công nghiệp trang bị phòng vắt sữa mẹ và hỗ trợ chi phí gửi trẻ cho lao động nữ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Xã hội của Quốc hội sử dụng luận văn làm tài liệu nghiên cứu thực chứng để ban hành các thông tư, nghị định hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động năm 2019 và chuẩn bị nội luật hóa Công ước số 105 của ILO.

  2. Bộ phận Nhân sự và Quản trị doanh nghiệp: Giám đốc nhân sự, cán bộ pháp chế tại các doanh nghiệp sử dụng luận văn để rà soát quy trình tuyển dụng, xây dựng thỏa ước lao động tập thể, bố trí cơ sở vật chất đạt chuẩn như phòng vắt sữa mẹ và phòng tránh rủi ro pháp lý về phân biệt đối xử.

  3. Tổ chức Công đoàn và cán bộ bảo vệ quyền phụ nữ: Cán bộ công đoàn cơ sở và các tổ chức phi chính phủ sử dụng kết quả nghiên cứu làm công cụ thương lượng tập thể, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho lao động nữ trong các vụ việc tranh chấp thai sản hoặc quấy rối tại nơi làm việc.

  4. Giảng viên và học viên chuyên ngành Luật: Các nhà nghiên cứu, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Lao động và Tố tụng dân sự sử dụng công trình làm tài liệu tham khảo chuyên sâu về bình đẳng giới và an sinh xã hội.

Câu hỏi thường gặp

  1. Người sử dụng lao động có được đơn phương chấm dứt hợp đồng khi lao động nữ đang mang thai không? Theo Khoản 3 Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động bị nghiêm cấm sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết hoặc tổ chức chấm dứt hoạt động.

  2. Quyền lợi nghỉ ngơi sinh lý và chăm sóc con nhỏ của lao động nữ được quy định như thế nào? Căn cứ Khoản 4 Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019 và Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút, tối thiểu 3 ngày làm việc mỗi tháng. Lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ 60 phút mỗi ngày trong giờ làm việc để cho con bú và vắt sữa mà vẫn hưởng đủ lương.

  3. Doanh nghiệp có bắt buộc phải xây dựng phòng vắt sữa mẹ tại nơi làm việc không? Theo quy định tại Điều 76 và Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, người sử dụng lao động được khuyến khích và yêu cầu tạo điều kiện lắp đặt phòng vắt, trữ sữa mẹ có nguồn điện, nước, tủ lạnh bảo đảm vệ sinh, che chắn kín đáo nếu sử dụng nhiều lao động nữ nhằm bảo vệ sức khỏe mẹ và bé.

  4. Người lao động bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc có quyền gì? Căn cứ Điều 35 Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ngay lập tức mà không cần báo trước, đồng thời có quyền khiếu nại, tố cáo yêu cầu xử lý kỷ luật người vi phạm và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

  5. Thời gian nghỉ thai sản theo quy định hiện hành kéo dài bao lâu? Theo Điều 139 Bộ luật Lao động năm 2019, lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 06 tháng, thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng. Trường hợp sinh đôi trở lên, tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng và hưởng trợ cấp theo Luật Bảo hiểm xã hội.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ hệ thống bảo đảm pháp lý về quyền việc làm, đào tạo và an sinh của lao động nữ theo Bộ luật Lao động năm 2019.
  • Chỉ ra các rào cản thực tế với 19,4% lao động nữ làm việc không hưởng lương và chỉ 20% lao động nữ có việc làm qua đào tạo.
  • Phát hiện tình trạng làm thêm giờ quá tải từ 600 đến 1.000 giờ mỗi năm tại các ngành da giày, dệt may cần sự can thiệp thanh tra khẩn cấp.
  • Đề xuất hoàn thiện chế định sa thải suy đoán, chuẩn hóa phòng vắt sữa và nâng mức xử phạt hành vi phân biệt đối xử trong giai đoạn 2023-2025.
  • Cung cấp cơ sở khoa học thúc đẩy mục tiêu đạt 60% lao động nữ làm công ăn lương và phê chuẩn Công ước số 105 của ILO trước năm 2030.

Công trình là tài liệu học thuật và thực tiễn giá trị cho việc xây dựng môi trường lao động văn minh, công bằng và bình đẳng. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và tổ chức công đoàn cần nhanh chóng tham khảo và chuyển hóa các giải pháp của luận văn vào thực tiễn quản trị nhân sự ngay hôm nay.