Đặt vấn đề Cá Anh vũ được xếp vào dạng “ngũ quý hà thủy” cùng với cá Lăng, cá Chiên, cá Rầm xanh và cá Bỗng. Hiện nay, các bãi đẻ tự nhiên của cá Rầm xanh và Anh Vũ gần như không còn, do việc hình thành các thuỷ điện đã làm thay đổi dòng chảy và môi trường sinh thái, đặc biệt là ảnh hưởng đến tập tính sinh sản của loài cá này. Vì vậy, phân bố của cá Anh Vũ có xu hướng lùi dần về phía thượng lưu các sông, suối, nơi có địa hình hiểm trở, phía hạ lưu không hoặc ít gặp. Ngoài ra, do việc khai thác quá mức cá Anh Vũ bằng các dụng cụ huỷ diệt như: dùng xung điện, thuốc nổ, hoá chất càng làm cho nguồn lợi cá giảm sút nghiêm trọng.
Đối tượng cá được coi là đặc sản của hệ thống sông Hồng đang có nguy cơ tuyệt chủng, xếp ở mức nguy cấp bậc V (Bộ Khoa học công nghệ và môi trường, 2007). Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (1992) cũng đã ghi nhận cá Anh Vũ (Semilebeo Notabilis Peters, 1980) trong Sách Đỏ Việt Nam phần Động Vật là loài đang có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ. Sau đó sách này đã được sửa chữa và xuất bản năm 2000. Trước tình hình đó đã có một số nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh sản và qui trình công nghệ sản xuất giống cá Anh Vũ đã được thực hiện nhằm mục đích bảo tồn và đáp ứng nhu cầu con giống cho người nuôi.
Tuy nhiên, do đây là đối tượng mới được nghiên cứu nên các qui trình công nghệ về sản xuất giống và đặc biệt là qui trình ương nuôi chưa được nhân rộng. Các nghiên cứu về cá Anh Vũ chủ yếu được thực hiện tại Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, cụ thể là tại Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt được đặt tại Hải Dương và tại một số tỉnh miền núi phía bắc, bao gồm các tỉnh Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang, Hà Giang và Thái Nguyên. Trong công tác sản xuất giống loài cá Anh Vũ, việc thực hiện tốt qui trình ương nuôi cá từ giai đoạn cá bột lên cá hương và từ cá hương lên cá giống có ý h 2 nghĩa rất quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu con giống cho người nuôi. Vì vậy, để hiểu biết nắm vững qui trình ương nuôi cá Anh Vũ, tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “ Thực hiện quy trình ương nuôi cá Anh Vũ giai đoạn từ cá bột lên cá giống tại hợp tác xã thủy sản Núi Cốc, xã Tân Thái, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”.
Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục tiêu - Đánh giá hiện trạng sản xuất của hợp tác xã - Thực hiện được qui trình ương nuôi cá Anh Vũ, giai đoạn cá bột lên cá hương và giai đoạn từ cá hương lên cá giống - Thực hiện qui trình phòng, chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp ở Anh Vũ giai đoạn cá hương và cá giống. Yêu cầu - Đánh giá được hiện trạng sản xuất của hợp tác xã - Thành thạo qui trình ương nuôi cá Anh Vũ, giai đoạn từ cá bột lên cá hương và từ cá hương lên cá giống - Áp dụng được qui trình phòng, chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp trên cá Anh Vũ giai đoạn cá hương và cá giống vào thực tiễn sản xuất. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của chuyên đề 2. Đặc điểm sinh học của cá Anh Vũ * Đặc điểm phân loại Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về phân loại cá Anh vũ đã được tiến hành từ rất sớm. Chenvery và Lemasson (1937)[3] trong sách “Đóng góp vào nghiên cứu cá ở Bắc Kỳ” ghi nhận có một loài cá Anh vũ và đặt tên khoa học là Pseudogyriocheilus Procheilus. Nghiên cứu tiếp theo của Mai Đình Yên về cá Anh vũ năm 1978 trong sách “Định loại cá nước ngọt ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam” xác định lại tên khoa học của cá Anh vũ (Semilabeo Notabilis Peters, 1880).
Tên khoa học này của cá Anh vũ đã được một số tác giả ghi nhận như Nguyễn Văn Hảo (1993)[2], Kottelat (2001)[1] và vẫn được dùng cho tới nay. Tuy nhiên, theo một số tài liệu công bố gần đây của các tác giả Nguyễn Văn Hảo và Võ Văn Bình (1999)[4], Nguyễn Hữu Ninh và cs (2009)[6], Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân (2000)[1] cho rằng cá Anh vũ có 2 loài có tên khoa học là Semilabeo Notabilis Peters, 1880 và Semilabeo Obscurus Lin, 1881. Cả 2 loài cá Anh vũ nói trên đều thuộc những loài cá quí hiếm được liệt kê trong sách đỏ Việt Nam. Tuy h 4 nhiên loài cá Anh vũ (Semilabeo Obscurus Lin, 1881) được xác định là loài cá được dùng để tiến vua.
Đây cũng là loài cá đang được sử dụng làm vật liệu nghiên cứu sinh sản nhân tạo trong Đề tài. * Đặc điểm hình thái Cá Anh vũ có thể được chia thành hai nhóm hình thái: Nhóm hình thái có thân lưng gù và nhóm hình thái thân thuôn dài.1: Cá Anh Vũ (Semilabeo Obscorus Lin, 1981) lưng thuôn dài Đặc điểm: thân dài, hơi dẹp bên, dày và béo. Viền lưng từ đầu về sau nhô lên, đến khởi điểm vây lưng là cao nhất, trở về sau tương đối bằng thẳng. Phần ngực bụng bằng phẳng.
Chiều cao đầu nhỏ hơn chiều rộng đầu. Mõm tròn đầy nhô về phía trước, phía bên có một hàng rãnh từ gốc râu mõm đến quá góc miệng hướng về phía trong cong gấp lại thành rãnh sau môi. Trên da mõm có các mấu nhô chất sừng mọc thành hàng ngay ngắn, hình thành một hàng ngang hình đai rộng. Môi dưới rất dày, hướng cong về phía trên và vào phía trong, phía ngoài của nó cũng chứa đầy mấu nhô chất sừng nhỏ xếp thành hàng ngay ngắn.
* Đặc điểm phân bố Cá Anh vũ sống ở tầng đáy của các sông suối nước trong, sâu, chảy siết, nơi nhiều rạn đá, có nhiều tảo đáy và rong rêu bám đá. Cá có sự di cư theo mùa, mà trực tiếp là độ trong của nước. Vào mùa nước lũ, nước đục cá ngược lên h 5 thượng lưu, chui ngược nước vào các hang nước ngầm, trong và ấm. Vào mùa khô nước cạn và trong cá Anh vũ từ thượng lưu, sông suối nhỏ di chuyển ra sông suối lớn để kiếm ăn, sự phân bố lùi dần xuống trung lưu như trước đây trên sông Lô - Gâm, cá thượng nguồn di chuyển xuống tận Việt Trì.
* Đặc điểm sinh trưởng Cá Anh vũ trong điều kiện sống ở môi trường tự nhiên có tốc độ tăng trưởng không cao. Theo kết quả điều tra của (Phạm Báu và cs, 2000)[2] cho thấy sau năm thứ nhất cá có chiều dài thân dao động từ 11,07-12,32cm. Đối với cá Anh vũ trên 2 tuổi có tốc độ tăng trưởng từ 200 đến 300 gram/năm. * Đặc điểm dinh dưỡng Trong môi trường tự nhiên kết quả phân tích về đặc điểm dinh dưỡng của cá Anh vũ cho thấy cá con mới nở ăn các cặn vẩn, động vật không xương sống nhỏ (Protozoa, Rotatoria) sau chuyển sang ăn mùn bã hữu cơ và tảo bám đáy (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sĩ Vân, 2001)[1].
Đối với cá trưởng thành sử dụng thức ăn là Tảo khuê bám đáy, mùn bã hữu cơ cùng và một số loài của động vật không xương sống (Phạm Báu và cs, 2000)[2]. Trong điều kiện nuôi thuần dưỡng cá Anh vũ theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hữu Ninh và cs (2009)[6] cho thấy sử dụng thức ăn công nghiệp có hàm lượng protein trên 28% hoặc 45% đều cho kết quả sinh trưởng tốt hơn so với nuôi cá hoàn toàn bằng thức ăn tự nhiên. Như vậy, cá Anh vũ hoàn toàn có thể nuôi được bằng thức ăn ổng hợp. * Đặc điểm sinh sản Theo tập tính cá Anh vũ sống ở môi trường nước chảy có rạn đá ngầm, sỏi ở đáy nên sự thành thục của cá phụ thuộc rất nhiều vào loại thức ăn tự nhiên sẵn có và tác động của dòng chảy.
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong tự nhiên cá đực thành thục ở tuổi 2+ và cá cái thành thục ở tuổi 4+. Tuy nhiên, trong điều h 6 kiện nuôi, cá đực thành thục ở tuổi 2+ và cá cái thành thục muộn hơn ở tuổi 3+ (Nguyễn Hữu Ninh và cs, 2009)[6]. Kết quả nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá Anh vũ của tác giả Nguyễn Hữu Ninh và cs (2009)[6] cho thấy mùa vụ sinh sản từ đầu tháng 3 đến cuối tháng 5. Cá cái bắt đầu thành thục, có trứng giai đoạn 4 ở năm thứ 4 với tần suất gặp là 29,04%.
Cá đực thành thục sớm hơn cá cái, cuối năm thứ 2 đã bắt gặp cá đực có sản phẩm sinh dục trong giai đoạn 4 với tần suất gặp là 18,2%. Cá phát dục nhanh từ tháng thứ 4, hệ số thành thục đạt 1,78% tần số gặp là 33,3%, đỉnh điểm vào tháng 5, hệ số thành thục đạt 33,9%; tháng 11 đạt cực tiểu, hệ số thành thục chỉ còn đạt 0,61%, trứng đang thái hoá. Mùa vụ sinh sản cá trong năm trùng với mùa nước lũ, nước đục từ tháng 6 – 9 hàng năm. Sức sinh sản vào loại khá, đạt 19,0 trứng/g cơ thể cá.
Cá cỡ 520 – 1400g sức sinh sản tuyệt đối từ 7600 – 35000 ( Phạm Báu, Nguyễn Đức Tuân, Bùi Đình Đặng, Nguyễn Công Thắng)[1]. Trứng cá Anh vũ có màu vàng rơm, noãn hoàng lớn, khi trương nước có xoang bao trứng lớn, đường kính trứng trên 3mm, trứng không có tính dính, thuộc dạng trứng trôi nổi. * Một số đặc điểm sinh lý và sinh hoá (ngưỡng Oxy, pH và nhiệt độ) Ngưỡng oxy, pH và nhiệt độ của cá Anh vũ được thể hiện qua bảng 2 (số liệu trích dẫn trong khuôn khổ đề án cá Anh vũ).1: Một số đặc điểm sinh lý, sinh hóa của cá Anh vũ Ngưỡng ôxy Cỡ cá Nhiệt độ (°C) pH (mg/l) Cá hương 10,5 - 40,25 3,62 - 9,16 0,11 Cá giống 9,5 - 40,75 3,94 - 9,24 0,025 Ngưỡng Oxy Hàm lượng oxi hoà tan là một chỉ tiêu môi trường quan trọng, quyết định tỉ lệ sống và sinh trưởng của cá. Nguồn cung cấp oxi là từ khí quyển và quá trình quang hợp của thực vật.
Sự tiêu hao oxi do quá trình hô hấp của sinh vật, khuếch h 7 tán oxi trở lại khí quyển và quá trình oxi hoá các chất hữu cơ (Vũ Trung Tạng, 1995)[3]. Cá Anh vũ có thể chịu được ngưỡng oxi thấp tốt hơn nhiều loài cá khác. Với ngưỡng oxi khá thấp như vậy, việc nuôi cá Anh vũ trong điều kiện ao nước tĩnh là hoàn toàn có thể. Ngưỡng oxi của cá giống thấp hơn cá hương đồng nghĩa với việc sức chịu đựng của cá giống cao hơn cá hương khi sống trong điều kiện môi trường nước nghèo oxi.