Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cá Anh Vũ (Semilabeo obscurus Lin, 1881 / Semilabeo notabilis Peters, 1880) là loài cá nước ngọt quý hiếm bản địa, được xếp vào nhóm "ngũ quý hà thủy" của hệ thống sông ngòi miền Bắc Việt Nam cùng với cá Lăng, cá Chiên, cá Rầm xanh và cá Bỗng. Trong tự nhiên, cá phân bố chủ yếu ở tầng đáy các vùng sông suối nước trong, chảy xiết, nhiều rạn đá và hang ngầm. Tuy nhiên, việc xây dựng các công trình thủy điện làm thay đổi dòng chảy, mất bãi đẻ tự nhiên, kết hợp với tình trạng khai thác mang tính hủy diệt (xung điện, thuốc nổ, hóa chất) đã làm suy giảm nghiêm trọng quần thể loài. Cá Anh Vũ đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam (các năm 1992, 2000, 2007) ở mức nguy cấp bậc V, cần được bảo vệ và phục hồi nguồn gen.
Mặc dù Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I đã nghiên cứu thành công sinh sản nhân tạo loài cá này, quy trình công nghệ sản xuất giống và đặc biệt là kỹ thuật ương nuôi từ giai đoạn cá bột lên cá giống vẫn chưa được chuẩn hóa rộng rãi tại các cơ sở sản xuất địa phương. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nhằm làm chủ kỹ thuật và cung ứng con giống chất lượng, khóa luận tập trung triển khai thực nghiệm quy trình ương nuôi cá Anh Vũ trong điều kiện bể xi măng sử dụng nguồn nước mặt Hồ Núi Cốc.
Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể gồm:
- Đánh giá hiện trạng sản xuất của Hợp tác xã Thủy sản Núi Cốc.
- Thực hiện quy trình ương nuôi cá Anh Vũ giai đoạn từ cá bột lên cá hương và giai đoạn từ cá hương lên cá giống.
- Thực hiện quy trình phòng, chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp ở cá Anh Vũ giai đoạn cá hương và cá giống.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cá Anh Vũ (Semilabeo notabilis / Semilabeo obscurus).
- Phạm vi nội dung: Giai đoạn phát triển cá bột lên cá hương và từ cá hương lên cá giống (cỡ cá từ 0,01 g/con đến khi đạt kích cỡ cá giống).
- Địa điểm thực hiện: Hợp tác xã Thủy sản Núi Cốc, xóm Gốc Mít, xã Tân Thái, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Thời gian thực hiện: Từ ngày 08/11/2018 đến ngày 26/05/2019 (khoảng 180 ngày).
Cơ sở khoa học và phương pháp thực hiện
Cơ sở khoa học và đặc tính sinh học loài
Cá Anh Vũ thuộc họ Cá chép (Cyprinidae). Cá có tập tính sống đáy, ăn mùn bã hữu cơ, tảo khuê bám đá và động vật không xương sống nhỏ. Trong điều kiện nhân tạo, cá có khả năng sử dụng thức ăn công nghiệp tổng hợp có hàm lượng protein từ 28% đến trên 40%. Về mặt sinh thái, cá có các ngưỡng sinh lý đặc thù:
- Nhiệt độ: Thích hợp trong khoảng 24 - 31°C; cá chịu nhiệt kém, ở 40°C cá hương chết 50% sau 20 - 30 phút và chết hoàn toàn sau 50 phút; cá giống chết 100% ở 41°C trong 15 - 20 phút. Ngưỡng nhiệt thấp làm cá hương hôn mê và chết 50% ở 10°C, cá giống chết 50% ở 9°C.
- pH: Ngưỡng pH thích hợp từ 6,0 đến 7,5. Cá chết 50% khi pH lên 9,16 - 9,24 hoặc hạ xuống 3,62 - 3,96.
- Oxy hòa tan (DO): Nhu cầu DO tối ưu ≥ 4 mg/l. Cá hương bắt đầu chết khi DO giảm xuống 0,5 mg/l và chết 50% ở 0,11 mg/l (sau 20 phút); cá giống hôn mê ở 0,11 mg/l và chết 50% ở mức 0,025 mg/l.
Hệ thống công trình và quy trình kỹ thuật ương nuôi
Thực nghiệm sử dụng hệ thống bể xi măng đặt trên bờ, cách mặt nước Hồ Núi Cốc 60 m:
- Quy cách bể: Bể xây kiên cố láng xi măng, kích thước 10 m × 3 m × 1,7 m (hoặc mức nước sâu ≥ 1,3 m), có căng lưới đen che nắng trực tiếp và bố trí máy sục khí liên tục.
- Giai đoạn 1 (Cá bột lên cá hương - 1 tháng đầu): Cá bột được thả trong giai lưới quây đặt trong bể với mật độ 169 con/m². Cho ăn lòng đỏ trứng gà luộc chín bóp nhuyễn hòa tan trong nước kết hợp bột đậu tương hòa tan; sau đó tập ăn thức ăn công nghiệp viên nổi (>40% protein, 11% lipid) với khẩu phần 2 - 3% khối lượng cơ thể/ngày, chia 2 lần/ngày (7h00 và 17h00).
- Giai đoạn 2 (Cá hương lên cá giống - tháng thứ 2 đến tháng thứ 6): Rút bỏ lưới quây, thả cá nuôi trực tiếp trong toàn bộ thể tích bể với mật độ 61 con/m². Sử dụng 100% thức ăn công nghiệp dạng viên nổi (CJ VINA AGRI, mã GALAXY FF-8000, cỡ viên 0,8 mm; protein thô ≥ 40%, béo thô 8 - 10%, xơ thô ≤ 4%, độ ẩm ≤ 11%). Khẩu phần ăn 3 - 5% khối lượng thân/ngày, cho ăn 2 lần/ngày (8h00 và 17h00). Bổ sung Vitamin C liều lượng 2 - 3 g/kg thức ăn định kỳ 1 lần/tuần.
Phương pháp theo dõi, thu thập và xử lý số liệu
- Theo dõi môi trường: Nhiệt độ đo bằng nhiệt kế bách phân tại 3 điểm trong bể lúc 7h30 và 17h00 hàng ngày. Độ pH xác định bằng bộ test so màu nhanh lúc 7h30. Hàm lượng oxy hòa tan đo bằng máy đo cầm tay 2 lần/ngày (5h00 - 6h00 và 14h00 - 15h00). Nguồn nước đáp ứng tiêu chuẩn QCVN 02-22:2015/BNNPTNT.
- Chỉ tiêu sinh trưởng và tỷ lệ sống: Định kỳ kéo lưới kiểm tra mẫu cá ngẫu nhiên bằng cân đồng hồ và chậu đo thể tích.
- Tỷ lệ sống: $TLS (%) = (\text{Số cá kết thúc} / \text{Số cá bắt đầu}) \times 100$
- Tốc độ tăng trưởng ngày: $ADG = (W_2 - W_1) / (t_2 - t_1)$ (g/con/ngày)
- Hệ số chuyển đổi thức ăn: $FCR = \text{Khối lượng thức ăn tiêu tốn (kg)} / \text{Khối lượng cá tăng trọng (kg)}$
- Xử lý số liệu: Tính toán giá trị trung bình ($X$) và sai số ($mx$) trên phần mềm Microsoft Excel 2010.
Nội dung chính theo từng chương
Phần I: Đặt vấn đề, mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
Trình bày tính cấp thiết của việc bảo tồn cá Anh Vũ do môi trường sống tự nhiên bị thu hẹp và áp lực đánh bắt quá mức. Xác lập mục tiêu nắm vững kỹ thuật sản xuất con giống từ cá bột lên cá giống, phòng trị dịch bệnh và đánh giá năng lực sản xuất thực tế tại HTX Thủy sản Núi Cốc.
Phần II: Tổng quan tài liệu
Hệ thống hóa toàn diện các công trình phân loại học từ Chenvery & Lemasson (1937), Mai Đình Yên (1978) đến các nghiên cứu xác định hai phân loài Semilabeo notabilis và Semilabeo obscurus của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I. Tổng hợp kết quả thử nghiệm sinh sản nhân tạo tại Vân Nam - Trung Quốc (Yang et al., 2011 dùng Domperidone kết hợp LHRH-A2) và các đề tài bảo tồn gen của Phạm Báu (2000), Nguyễn Hữu Ninh (2009). Đánh giá hiện trạng ngành thủy sản Thái Nguyên năm 2014 với diện tích nuôi trồng 5.842 ha, sản lượng 7.620 tấn, trong đó huyện Đại Từ chiếm 50,6% diện tích (2.954 ha) nhưng sản lượng chỉ đạt 1.350 tấn do 86% là diện tích quảng canh; toàn tỉnh sản xuất được 500 triệu cá bột và 55 triệu cá giống, đáp ứng 85% nhu cầu nội tỉnh.
Phần III: Vật liệu và phương pháp thực hiện
Mô tả chi tiết cấu trúc 2 bể xi măng, hệ thống cấp thoát nước từ Hồ Núi Cốc, các trang thiết bị kiểm tra môi trường và phương pháp bố trí lưới quây. Chi tiết hóa từng bước kỹ thuật chuẩn bị bể, sát trùng bằng vôi bột quanh khu vực nuôi, kỹ thuật luyện cá ăn thức ăn nổi nhân tạo, chế độ vệ sinh cọ rửa định kỳ (1 tuần/lần) và các công thức toán học đo đạc chỉ tiêu TLS, ADG, FCR.
Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trình bày và phân tích các chuỗi số liệu thực nghiệm thu thập liên tục từ tháng 11/2018 đến tháng 05/2019:
- Diễn biến các thông số môi trường nước (nhiệt độ từ 19,35°C đến 25,95°C; pH từ 6,6 đến 7,1; DO từ 5,04 mg/l đến 7,34 mg/l).
- Tăng trưởng cá qua từng tháng: Từ khối lượng ban đầu 0,01 g/con đạt 0,47 g/con (tháng 11), 1,05 g/con (tháng 12), 1,52 g/con (tháng 1), 2,04 g/con (tháng 2), 2,50 g/con (tháng 3), 2,87 g/con (tháng 4) và đạt 3,30 g/con (tháng 5).
- Tỷ lệ sống tích lũy sau 6 tháng đạt 72,7%.
- Tổng kết quả tiêu thụ 155 kg thức ăn công nghiệp để tạo ra 48,7 kg khối lượng cá thương phẩm, xác định FCR = 3,18.
- Tổng hợp việc tham gia quản lý 1 lồng cá Rô phi, 2 lồng cá Trắm đen, 1 lồng cá Bỗng, 1 lồng cá Chiên & Lăng chấm cùng 10 dây treo trai ngọc tại HTX.
Phần V: Kết luận và đề nghị
Đánh giá mức độ thích nghi của cá Anh Vũ trong môi trường bể nước tuần hoàn từ hồ thủy lợi, khẳng định tính khả thi của quy trình ương giống và kiến nghị tiếp tục theo dõi chu kỳ nuôi thương phẩm hoàn chỉnh.
Kết quả và đóng góp
Dữ liệu thực nghiệm chính
Bảng tổng hợp theo dõi các yếu tố môi trường nước trong suốt chu kỳ ương nuôi:
| Tháng |
Oxy hòa tan - DO ($mg/l$) |
Giá trị pH |
Nhiệt độ nước ($^\circ C$) |
| Tháng 11/2018 |
$5,35 \pm 0,08$ |
$6,9 \pm 0,07$ |
$24,75 \pm 0,40$ |
| Tháng 12/2018 |
$7,23 \pm 0,06$ |
$6,7 \pm 0,10$ |
$19,90 \pm 0,45$ |
| Tháng 01/2019 |
$7,34 \pm 0,07$ |
$6,8 \pm 0,06$ |
$19,35 \pm 0,38$ |
| Tháng 02/2019 |
$5,41 \pm 0,05$ |
$7,1 \pm 0,08$ |
$24,10 \pm 0,41$ |
| Tháng 03/2019 |
$6,85 \pm 0,04$ |
$6,7 \pm 0,06$ |
$20,65 \pm 0,47$ |
| Tháng 04/2019 |
$6,91 \pm 0,09$ |
$6,9 \pm 0,10$ |
$20,55 \pm 0,44$ |
| Tháng 05/2019 |
$5,04 \pm 0,06$ |
$6,6 \pm 0,07$ |
$25,95 \pm 0,30$ |
Bảng theo dõi diễn biến tăng trưởng khối lượng cá Anh Vũ theo tháng:
| Tháng nuôi |
Cỡ cá đầu tháng ($g/con$) |
Khối lượng trung bình cuối tháng ($g/con \pm mx$) |
| Tháng 11/2018 |
0,01 |
$0,47 \pm 0,007$ |
| Tháng 12/2018 |
0,51 |
$1,05 \pm 0,018$ |
| Tháng 01/2019 |
1,10 |
$1,52 \pm 0,014$ |
| Tháng 02/2019 |
1,55 |
$2,04 \pm 0,0175$ |
| Tháng 03/2019 |
2,10 |
$2,50 \pm 0,012$ |
| Tháng 04/2019 |
2,52 |
$2,87 \pm 0,011$ |
| Tháng 05/2019 |
2,90 |
$3,30 \pm 0,015$ |
Bảng tổng kết các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật sau 180 ngày ương nuôi:
| Chỉ tiêu kỹ thuật |
Giá trị ghi nhận |
| Số lượng cá thả ban đầu |
20.300 con |
| Số lượng cá giống thu hoạch |
14.759 con |
| Tỷ lệ sống ($TLS$) |
72,7% |
| Khối lượng ban đầu trung bình |
0,01 g/con |
| Khối lượng kết thúc trung bình |
3,30 g/con (dao động 2,95 - 3,37 g/con) |
| Tốc độ tăng trưởng ngày ($ADG$) |
0,007 - 0,018 g/con/ngày (trung bình 0,0172 g/con/ngày) |
| Tổng lượng thức ăn sử dụng |
155 kg |
| Tổng khối lượng cá thu hoạch |
48,7 kg |
| Hệ số chuyển đổi thức ăn ($FCR$) |
3,18 |
Đóng góp thực tiễn và giải pháp kỹ thuật đề xuất
- Khả năng thích nghi thức ăn công nghiệp: Khóa luận chứng minh cá bột Anh Vũ có thể chuyển đổi thành công sang sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp dạng viên nổi có hàm lượng đạm cao (40% protein thô) sau giai đoạn tập ăn bằng lòng đỏ trứng và bột đậu tương.
- Quy trình kiểm soát môi trường bể nuôi: Việc kết hợp lưới đen chống nắng, sục khí liên tục và duy trì mực nước sâu $\ge 1,3$ m giúp duy trì các thông số DO ($5,04 - 7,34$ mg/l) và pH ($6,6 - 7,1$) nằm trọn vẹn trong khoảng thích ứng sinh lý của cá, hạn chế tối đa sốc nhiệt mùa đông và thiếu khí mùa hè.
- Hiệu quả ương giống tập trung: Tỷ lệ sống đạt 72,7% trong điều kiện bể xi măng được kiểm soát cao hơn đáng kể so với sinh trưởng tự nhiên, cung cấp dữ liệu cơ sở cho việc sản xuất giống nhân tạo thương mại quy mô hợp tác xã.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của khóa luận: Thời gian nghiên cứu giới hạn trong 6 tháng (180 ngày), do đó kết quả thực nghiệm mới chỉ phản ánh giai đoạn từ cá bột lên cá giống (cỡ 3,3 g/con), chưa đánh giá được toàn diện chu kỳ nuôi thương phẩm đạt khối lượng cá thịt xuất bán (150 - 200 g/con hoặc lớn hơn). Khối lượng đàn cá khi thu hoạch chưa có độ đồng đều tuyệt đối (dao động giữa cá nhỏ nhất 2,95 g/con và lớn nhất 3,37 g/con) do phân hóa thức ăn và cạnh tranh dinh dưỡng cục bộ.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục duy trì và mở rộng thực nghiệm nuôi cá Anh Vũ trong hệ thống bể xi măng lên quy mô thương phẩm; thử nghiệm tối ưu hóa mật độ ương và phân cỡ cá định kỳ để tăng độ đồng đều của đàn giống; chuyển giao quy trình kỹ thuật cho các vùng sông suối, hồ chứa có điều kiện tự nhiên phù hợp tại các huyện miền núi thuộc tỉnh Thái Nguyên.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên ngành Nuôi trồng Thủy sản, Chăn nuôi Thú y, Ngư y; cán bộ kỹ thuật tại các Trung tâm Giống thủy sản nước ngọt và các cơ sở, hợp tác xã nuôi trồng thủy đặc sản miền núi.
- Nội dung giá trị nhất:
- Quy trình chi tiết kỹ thuật phối trộn và chuyển đổi khẩu phần thức ăn (lòng đỏ trứng gà $\rightarrow$ bột đậu tương $\rightarrow$ thức ăn viên nổi 40% đạm).
- Dữ liệu định lượng về các ngưỡng chịu đựng sinh lý (nhiệt độ, pH, DO) và tốc độ tăng trưởng thực tế theo từng tháng của cá Anh Vũ trong môi trường bể nuôi có kiểm soát.
- Các biện pháp quản lý, vệ sinh sát trùng phòng bệnh định kỳ bằng vôi bột và bổ sung Vitamin C trong môi trường nước nuôi thủy sản hồ chứa.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng loại thức ăn nào và khẩu phần cho ăn ra sao qua hai giai đoạn ương nuôi cá Anh Vũ?
Trong 1 tháng đầu (từ cá bột lên cá hương), thức ăn sử dụng là lòng đỏ trứng gà luộc chín bóp nhuyễn hòa tan trong nước kết hợp bột đậu tương hòa tan, sau đó tập cho ăn thức ăn viên nổi (>40% protein, 11% lipid) với khẩu phần 2 - 3% trọng lượng thân/ngày. Từ tháng thứ 2 đến tháng thứ 6 (từ cá hương lên cá giống), cá được cho ăn 100% thức ăn công nghiệp dạng viên nổi CJ VINA AGRI (GALAXY FF-8000, cỡ hạt 0,8 mm, protein $\ge 40%$, béo $8 - 10%$) với khẩu phần 3 - 5% trọng lượng thân/ngày, chia làm 2 lần ăn (8h00 và 17h00), đồng thời bổ sung Vitamin C liều 2 - 3 g/kg thức ăn định kỳ 1 lần/tuần.
2. Mật độ ương nuôi cá Anh Vũ được bố trí như thế nào trong hệ thống bể?
Mật độ ương nuôi được điều chỉnh theo hai giai đoạn phát triển: Trong tháng đầu tiên (giai đoạn cá bột lên cá hương), cá được quây nuôi tập trung trong lưới đặt tại bể xi măng với mật độ 169 con/m². Khi cá đạt kích cỡ cá hương (sau 1 tháng), lưới quây được tháo dỡ để cá bơi tự do trong toàn bộ thể tích bể với mật độ nuôi thưa hơn là 61 con/m² cho đến khi kết thúc thực nghiệm ở tháng thứ 6.
3. Các chỉ số môi trường nước (nhiệt độ, pH, DO) tại bể nuôi biến động như thế nào trong suốt 6 tháng thực nghiệm?
Trong suốt thời gian từ tháng 11/2018 đến tháng 05/2019, các yếu tố môi trường duy trì ở mức ổn định: Nhiệt độ nước trung bình dao động từ 19,35°C (tháng 1) đến 25,95°C (tháng 5); giá trị pH dao động hẹp từ 6,6 đến 7,1; hàm lượng oxy hòa tan (DO) dao động từ 5,04 mg/l đến 7,34 mg/l (các tháng nước mát DO cao hơn các tháng nhiệt độ cao). Toàn bộ các chỉ số này đều nằm trong ngưỡng an toàn sinh lý cho cá Anh Vũ theo QCVN 02-22:2015/BNNPTNT.
4. Tỷ lệ sống và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) của cá Anh Vũ sau 180 ngày ương nuôi đạt bao nhiêu?
Sau 180 ngày thực nghiệm, từ 20.300 cá bột ban đầu đã thu hoạch được 14.759 con cá giống, đạt tỷ lệ sống tích lũy là 72,7%. Tổng lượng thức ăn công nghiệp tiêu tốn là 155 kg để thu được 48,7 kg khối lượng cá tăng trọng, tương ứng với hệ số chuyển đổi thức ăn FCR là 3,18.
5. Tốc độ tăng trưởng và khối lượng trung bình của cá Anh Vũ đạt mức nào khi kết thúc 6 tháng ương?
Từ khối lượng cá bột ban đầu là 0,01 g/con, sau 6 tháng nuôi cá đạt khối lượng trung bình là 3,30 ± 0,015 g/con (trong đó cá lớn nhất đạt 3,37 g/con, cá nhỏ nhất đạt 2,95 g/con). Tốc độ tăng trưởng khối lượng bình quân ngày (ADG) trong cả chu kỳ dao động từ 0,007 đến 0,018 g/con/ngày (trung bình đạt khoảng 0,0172 g/con/ngày).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đào Đức Thắng đã thực hiện thành công quy trình ương nuôi cá Anh Vũ từ giai đoạn cá bột lên cá giống trong hệ thống bể xi măng tại HTX Thủy sản Núi Cốc, tỉnh Thái Nguyên. Sau 180 ngày theo dõi, cá đạt tỷ lệ sống 72,7%, khối lượng trung bình tăng từ 0,01 g/con lên 3,30 g/con với hệ số chuyển đổi thức ăn FCR là 3,18. Kết quả thực nghiệm khẳng định cá Anh Vũ có khả năng thích ứng tốt với nguồn nước Hồ Núi Cốc và thức ăn công nghiệp dạng viên nổi, mở ra cơ sở kỹ thuật thực tiễn cho việc nhân rộng sản xuất giống nhân tạo phục vụ bảo tồn và phát triển thương phẩm loài thủy đặc sản quý hiếm này.