CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH 1.Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Đánh giá giáo dục trên thế giới là một môn khoa học được nghiên cứu và giảng dạy tại các trường đại học. Ralph Tyler được coi là một trong những người đầu tiên đưa ra khái niệm đánh giá giáo dục [107, tr. 7], ông sử dụng thuật ngữ đánh giá để biểu thị quy trình đánh giá sự tiến bộ của người học theo các mục tiêu đạt được.
Ông thấy rằng quy trình này rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin để đạt được các mục tiêu và độ chính xác, hiệu quả trong quá trình học tập. Tyler đưa ra sơ đồ thể hiện 3 yếu tố chính trong quá trình giáo dục là: mục tiêu, kinh nghiệm học tập và đánh giá người học (Xem sơ đồ 1. Mục tiêu của chương trình giáo dục yêu cầu người học đạt được một hệ thống các kiến thức, kỹ năng và có thể vận dụng vào cuộc sống. Theo Tyler, đánh giá người học trong quá trình giáo dục là cần thiết vì nó liên quan đến việc kiểm tra mức độ tối đa có thể đạt được các mục tiêu chương trình.
Các mục tiêu Trải nghiệm Đánh giá học tập người học Sơ đồ 1. Trình bày quá trình giáo dục theo Tyler [107, tr. 12] (Nguồn: The International Encyclopedia of Educational Evaluation.) Đây là sơ đồ đa chiều, được đánh dấu bằng mũi tên hai chiều để nối các thành phần với nhau. Bắt đầu từ mục tiêu, mũi tên chỉ về trải nghiệm học tập biểu thị rằng các mục tiêu chỉ dẫn cho việc chọn lựa các trải nghiệm học tập.
Mũi tên hướng từ mục tiêu sang đánh giá người học biểu thị điểm chú ý đầu tiên của đánh giá là 12 z tập trung vào các bằng chứng mở rộng của mục tiêu cần đạt được. Mũi tên chỉ từ trải nghiệm học tập sang đánh giá người học biểu thị trải nghiệm học tập là các minh chứng cho việc đánh giá. Hai mũi tên từ đánh giá người học sang mục tiêu và trải nghiệm học tập là đặc biệt quan trọng. Mũi tên từ đánh giá người học tới mục tiêu cho biết những thông tin mà mục tiêu cần đạt tới, đồng thời cũng cung cấp những thông tin có giá trị để hình thành hoặc xóa bỏ một số mục tiêu.
Mũi tên từ đánh giá người học tới trải nghiệm học tập đưa ra hai thông tin quan trọng. Thứ nhất, chỉ có hoạt động đánh giá mới cung cấp thông tin để biết được trải nghiệm học tập là tốt hay không tốt, có những thông tin cần chỉnh sửa và có những thông tin cần loại bỏ. Thứ hai là, các nhiệm vụ, các bài tập và các vấn đề nảy sinh do các chuyên gia đánh giá đưa ra có thể là đề xuất cho các kinh nghiệm học tập mới. Mũi tên cuối cùng từ trải nghiệm học tập tới mục tiêu biểu thị các hoạt động học tập có thể là điểm giao nhau giữa giáo viên, người học và tài liệu học tập để tạo nên các mục tiêu mới.
Miêu tả trên về quy trình giáo dục là đóng góp của Tyler (1949). Điểm quan trọng ở đây là Tyler xem đánh giá như tâm điểm của quy trình giáo dục. Quan điểm của Tyler về vai trò đánh giá trong giáo dục đã đóng góp một giá trị đáng kể cho những người phát triển chương trình và đánh giá giáo dục, ông đã tạo ra nền tảng cho tư duy và thực hành đánh giá lúc bấy giờ. Tyler chủ yếu nhìn nhận đánh giá là xem xét khả năng đạt được của người học về mục tiêu chương trình.
Tyler đã cho ra đời sơ đồ hợp lý của mình, đây là một bước nhảy có ảnh hưởng cho các thuyết sau này. Vào những năm 50 và đầu những năm 60, thực tiễn trắc nghiệm tiêu chuẩn hóa phát triển nhanh chóng, các tổ chức chuyên nghiệp đã tham gia vào thiết kế trắc nghiệm. Trong đánh giá, thực thi mô thức của Tyler yêu cầu trình bày rõ ràng mục tiêu, kỹ thuật trình bày mục tiêu, vì vậy đã ra đời phân loại mục tiêu giáo dục. Bloom và các cộng sự của mình đã tiến hành phân loại mục tiêu giáo dục trong lĩnh vực nhận thức, nó có tác dụng quan trọng trong lý luận đánh giá giáo dục và hoàn thiện việc học tập.
Cuốn sách 13 z “Nguyên tắc phân loại mục tiêu giáo dục: lĩnh vực nhận thức” của B.Bloom và các cộng sự viết gồm 2 phần. Phần 1 cuốn sách phân tích sâu các nguyên tắc xây dựng mục tiêu giáo dục, phân tích các đặc tính và ý nghĩa của lĩnh vực tri thức và đưa ra một số cách thức phân loại mục tiêu giáo dục. Phần 2 viết về nguyên tắc phân loại và những tài liệu minh họa. Phần này Bloom đã trình bày chi tiết về 6 cấp độ nhận thức: Kiến thức, Lĩnh hội, Áp dụng, Phân tích, Tổng hợp, Đánh giá [4].
Có tài liệu dịch là: Biết, Hiểu, Áp dụng, Phân tích, Tổng hợp, Đánh giá [35]. Cuốn sách này như là kim chỉ nam trong việc phân loại mục tiêu giáo dục để xây dựng quy trình đánh giá giáo dục cho đến tận bây giờ. Bloom cùng George F. Thomas Hastings cho ra đời cuốn sách “Evaluation to improve Learning” (Đánh giá để thúc đẩy học tập).
Cuốn sách này dành cho giáo viên, viết về kỹ thuật đánh giá kết quả học tập của học sinh. Nếu được áp dụng đúng cách, việc đánh giá học sinh sẽ giúp giáo viên hỗ trợ học sinh cải thiện khả năng học tập. Thông qua việc liên kết các kỹ thuật đánh giá tốt nhất, cuốn sách nhằm hỗ trợ các giáo viên sử dụng đánh giá như một công cụ để cải tiến cả quy trình dạy và học [123]. Thời kỳ những năm 60, 70, đánh giá giáo dục đã có sự phát triển rộng.
Nhiều mô hình đánh giá được đưa ra. Năm 1966, mô hình CIPP của L. Stufflebean được hình thành dựa trên sự kết hợp của đánh giá bối cảnh (Context), đánh giá đầu vào (Input), đánh giá quá trình (Process), đánh giá kết quả (Product). Scriven đã đưa ra mô hình đánh giá không theo mục tiêu (Goal Free).
Tiếp theo là sự ra đời của mô hình ứng đáp câu hỏi (Responsive) do R.Stake khởi xướng. Những năm sau này, khoa học đánh giá ngày càng phát triển ở cả lý thuyết và thực hành. Để đánh giá chất lượng giáo dục, người ta thường tập trung đánh giá kết quả học tập của học sinh. Phương pháp, kỹ thuật đánh giá ngày một phát triển hơn.
Các lý thuyết về đo lường đánh giá giáo dục phát triển, người ta sử dụng phương pháp phân tích định tính và định lượng KQHT của học sinh. 14 z Lĩnh vực khoa học về Đo lường trong giáo dục (Educational Measurement) bắt đầu phát triển từ khoảng đầu thế kỷ 20 và cho đến thập niên 1970 thì hoàn thiện trong khuôn khổ lý thuyết trắc nghiệm cổ điển. Từ sau thập niên 1970 đến nay, một lý thuyết trắc nghiệm hiện đại, dựa trên IRT (Item Response Theory), ra đời và phát triển rất nhanh nhờ khả năng tính toán bằng máy tính điện tử. IRT được xây dựng dựa trên việc nghiên cứu mọi cặp tương tác nguyên tố “thí sinh – câu hỏi” khi triển khai một TNKQ.
Mỗi thí sinh đứng trước một câu hỏi sẽ ứng đáp như thế nào, điều đó phụ thuộc vào năng lực tiềm ẩn của thí sinh và các đặc trưng của câu hỏi. Hành vi ứng đáp này được mô tả bằng một hàm đặc trưng câu hỏi (Item Response Function) cho biết xác suất trả lời đúng câu hỏi tùy theo tương quan giữa năng lực thí sinh và các tham số đặc trưng cho câu hỏi. Hiện nay có 3 mô hình toán phổ biến nhất trong IRT: mô hình 1 tham số (mô hình Rasch) chỉ xét đến độ khó của câu hỏi, mô hình 2 tham số có xét đến độ phân biệt của câu hỏi, và mô hình 3 tham số xét thêm mức độ đoán mò của thí sinh khi trả lời câu hỏi. [73,104,105] Các thành tựu quan trọng trên của IRT đã nâng độ chính xác của phép đo lường trong tâm lý và giáo dục lên một tầm cao mới về chất so với các lý thuyết trắc nghiệm cổ điển.
Từ thành tựu tổng quát đó của IRT người ta có thể đưa ra các quy trình để xây dựng ngân hàng câu hỏi (item banking), phân tích các kết quả TNKQ để chỉnh sửa các câu hỏi trắc nghiệm, chủ động thiết kế các đề trắc nghiệm theo các mục tiêu mong muốn: chẳng hạn, trắc nghiệm để tuyển chọn theo nhiều mức năng lực hay trắc nghiệm để xác định một ngưỡng năng lực nào đó cần vượt qua xem như đạt yêu cầu giáo dục. Có những tài liệu viết về lĩnh vực đo lường đánh giá trong giáo dục rất công phu, dầy dặn như cuốn “Educational Measurement and Evaluation” (Đo lường và đánh giá trong giáo dục) của Jum C. Nunnally [96], cuốn “Measuring Educational Achievement” (Đo lường thành tích giáo dục) của Robert L. Ebel [110] mô tả rất chi tiết phương pháp đo lường đánh giá định lượng kết quả học tập của học sinh.
15 z Cuốn “Measurement and Evaluation in Teaching” (Đo lường và đánh giá trong dạy học) của Norman E. Gronlund giới thiệu cho giáo viên và những người đang theo học nghiệp vụ sư phạm về những nguyên tắc và quy trình đánh giá cần thiết cho việc dạy học hiệu quả. Các chuyên gia, các nhà quản lý, giám sát và tham vấn cũng sẽ thấy cuốn sách này có ích cho họ [99]. Có những cuốn sách viết chuyên sâu về hướng dẫn đánh giá trong lớp học dành cho giáo viên như cuốn “A Teacher’s Guide to Assessment” (Hướng dẫn giáo viên đánh giá) của D.
Macintosh viết rất cụ thể về những lý luận cơ bản của đánh giá trong lớp học, cách lập kế hoạch đánh giá, cách đánh giá, cho điểm, … [102]. Đặc biệt, cuốn tài liệu của UNESCO viết về đánh giá giáo dục trong đó có bàn đến công tác đánh giá kết quả học tập của học sinh tại Việt Nam, mang tên: “Monitoring Educational Achievement” (Giám sát thành tích giáo dục) (2004 Paris Unesco). Mục tiêu của tài liệu này là để giải thích ý nghĩa của khái niệm “giám sát thành tích giáo dục”, chỉ ra khái niệm thành tích đã được mô tả trong các nghiên cứu chọn lọc cấp quốc gia và quốc tế như thế nào, để trả lời các câu hỏi thường gặp về các nghiên cứu tương tự, để chỉ ra các nhóm tiêu chí được đánh giá và một số vấn đề đặt ra đối với các nhà quản lý giáo dục. Hiện nay, trên thế giới, khoa học đánh giá giáo dục đang phát triển mạnh, đặc biệt ở Mỹ cũng như các nước thuộc khối OECD.