Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm vùng đệm và vai trò của vùng đệm đối với quản lý khu bảo tồn thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học 1.1 Sự cần thiết có sự tham gia của cộng đồng địa phương vào quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Rừng và tài nguyên ĐDSH vốn dĩ đã tồn tại lâu đời và gắn bó mật thiết với đời sống của đồng bào sống trong và ven rừng. Mối quan hệ này được thể hiện trên các mặt kinh tế, văn hóa, tín ngưỡng và tập quán của người dân địa phương. Do đó, công việc quy hoạch bảo tồn không phải chỉ quan tâm đến sản phẩm cuối cùng là gìn giữ được các giá trị bảo tồn, mà còn phải đáp ứng được nguyện vọng và nhu cầu chính đáng của cộng đồng địa phương, đặc biệt đối với những cộng đồng bị ảnh hưởng do xây dựng khu bảo tồn và những nhóm người dễ tổn thương.
Hay nói cách khác là phải hài hòa được các mục tiêu bảo tồn ĐDSH với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Việc các cộng đồng địa phương có liên quan được tham gia vào quá trình quy hoạch khu bảo tồn là khâu then chốt, đảm bảo tính phù hợp và tính khả thi của quy hoạch này. Đó cũng chính là cơ sở để các cộng đồng có liên quan thể hiện được vai trò tích cực của mình trong bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời là một trong những yêu cầu cơ bản của giải pháp quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng. Lý do mà cộng đồng địa phương có thể đóng vai trò quan trọng trong quản lý khu bảo tồn là: Cộng đồng có nguồn lực lao động dồi dào; có kinh nghiệm và kiến thức bản địa phong phú về sử dụng bền vững tài nguyên rừng, là nhóm người thiệt thòi và dễ tổn thương do quy hoạch khu bảo tồn và là nhóm người tác động trực tiếp đến tài nguyên rừng trong vùng lõi và vùng đệm của khu bảo tồn.
Định nghĩa và chức năng của vùng đệm Khái niệm "vùng đệm" là sản phẩm của ý tưởng muốn kết hợp hài hòa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với các mục tiêu bảo tồn ĐDSH. Vào những năm đầu của quá trình phát triển ý tưởng này, Sayer (1991) đã đưa ra định nghĩa vùng đệm như sau: "Vùng đệm là vùng rìa của vườn quốc gia hoặc khu bảo tồn thiên nhiên tương đương, nơi mà những hạn chế về sử dụng tài nguyên hoặc các biện pháp phát triển đặc biệt được thực hiện để tăng cường giá trị bảo tồn của các khu đó" Định nghĩa này đã nêu được khái niệm cơ bản về vùng đệm nhưng còn chung chung. Năm 1999, Gilmour và Nguyễn Văn Sản tổng kết kinh nghiệm của thế giới và thực tiễn quản lý hệ thống KBTTN ở Việt Nam đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về vùng đệm như sau: "Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của khu bảo tồn và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn và của chính vùng đệm, đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh khu bảo tồn. Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của cư dân sống trong vùng đệm" Ở Việt Nam, khái niệm "vùng đệm" được tiếp cận khá sớm trong lịch sử xây dựng và quản lý hệ thống rừng đặc dụng và ngày càng được hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Quyết định 186/2006/QĐ- TTg, ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ Về việc ban hành Quy chế quản lý rừng đã xác định: - Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm liền kề với vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên; bao gồm toàn bộ hoặc 5 một phần các xã, phường, thị trấn nằm sát ranh giới với vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên - Vùng đệm được xác lập nhằm ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại của con người tới VQG và KBTTN. - VQG và KBTTN phải xây dựng vùng đệm cho khu rừng. Vị trí, diện tích vùng đệm được quy định trong quyết định thành lập khu bảo tồn và phải được xác định trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất hoặc xác định tọa độ trên mặt nước biển. - Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng - Diện tích đất ở, ruộng, vườn và nương rẫy cố định của dân cư sống trong rừng đặc dụng không tính vào diện tích rừng đặc dụng nhưng phải được thể hiện trên bản đồ, cắm mốc ranh giới rõ ràng trên thực địa và quản lý theo quy định của pháp luật về đất đai.
Luật Đa dạng sinh học (2009) xác định: "Vùng đệm là vùng bao quanh, tiếp giáp khu bảo tồn, có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ tác động tiêu cực từ bên ngoài đối với khu bảo tồn" Từ các định nghĩa và khái niệm trên cho thấy các chức năng chính của vùng đệm bao gồm: - Góp phần vào việc bảo vệ khu bảo tồn mà nó bao quanh: ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng. Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng, hạn chế di dân vào vùng đệm, cấm săn bắt bẫy bắt các loại động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ. Không phát triển các ngành kinh tế như công nghiệp, các hoạt đông sản suất chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu tại chỗ. - Nâng cao các giá trị bảo tồn của chính bản thân vùng đệm.
6 - Tạo điều kiện mang lại cho những người dân sinh sống trong vùng đệm những lợi ích từ vùng đệm và từ khu bảo tồn: nâng cao thu nhập của người dân bằng các hoạt động kinh tế mà không ảnh hưởng đến khu bảo tồn. Để vùng đệm thực hiện được chức năng của mình, cần có những điều kiện cơ bản sau: + Nâng cao điều kiện kinh tế xã hội của cư dân sống trong vùng đệm để giảm việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên bên trong KBTTN. + Khuyến khích các cộng đồng địa phương trong vùng đệm tham gia vào việc qui hoạch và quản lý các hoạt động bảo tồn. + Giúp cộng đồng địa phương lập kế hoạch và quản lý tài nguyên thiên nhiên trong vùng đệm một cách bền vững.
+ Có sự trao đổi thông tin và điều phối chặt chẽ để đảm bảo các quy hoạch và kế hoạch quản lý phát triển của chính quyền địa phương và các đơn vị kinh tế ở vùng đệm mang tính hỗ trợ (và không đi ngược lại) các mục tiêu bảo tồn đã đề ra cho KBTTN (và vùng đệm). + Các hoạt động đầu tư trong một vùng đệm cần được điều phối để hướng tới thực hiện các mục tiêu bảo tồn đề ra của vùng đệm và KBTTN. + Khuyến khích các dự án cụ thể trong vùng đệm ủng hộ các mục tiêu bảo tồn. + Tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào xây dựng và thực hiện các hoạt động tại vùng đệm.3 Những kết quả đã đạt được và những thiếu sót trong quy hoạch và quản lý vùng đệm của Việt Nam.
Những kết quả đạt được Việc quản lý và bảo vệ rừng nói chung rất đa dạng, phong phú nhưng lại tuân theo những quy định rất nghiêm ngặt. Về mặt bảo tồn, các sinh vật quý hiếm vừa được đảm bảo sự tồn tại của giống nòi, vừa cung cấp sản phẩm 7 cho cộng đồng. Về mặt kinh tế và đời sống, rừng phải đảm bảo chống lũ lụt, hạn hán, cung cấp nước cho sản xuất và đời sống. Sau nhiều năm thực hiện việc thực hiện quy hoạch và quản lý vùng đệm ở một số khu bảo tồn trong nước ta đã đạt được những kết quả sau: • Về công tác quản lý bảo vệ tài nguyên môi trường rừng: - Các nhiệm vụ về bảo vệ tài nguyên môi trường được các đơn vị quan tâm chỉ đạo thực hiện.
VQG đã phối hợp với chính quyền địa phương và các bên liên quan triển khai cho cộng đồng địa phương thực hiện các đề án khai thác lâm sản. Người dân nhận thuê khoán diện tích rừng và chủ động tổ chức hoạt động khai thác lâm sản. - Tình hình an ninh trật tự và tài nguyên môi trường ở khu vưc tương đối ổn định. • Về công tác khoa học kỹ thuật và hợp tác quốc tế: Các VQG đã thực hiện các nhiệm vụ khoa học kỹ thuật truyền thống như: Đào tạo cán bộ viên chức, hợp tác nghiên cứu khoa học và thực hiện các Dự án về bảo tồn và phát triển cho khu vực.
Phối hợp và tạo điều kiện cho các tổ chức nước ngoài muốn hợp tác bảo vệ và phát triển VQG. - Dự án du lịch cộng đồng do Trung tâm bảo tồn biển và phát triển cộng đồng (MCD) phối hợp với một số VQG đã được thực hiện và đã cho những kết quả nhất định. - Cho thuê môi trường rừng: một số VQG đã thực hiện việc giao đất giao rừng cho người dân chủ động khai thác và sản xuất. • Về vấn đề đồng quản lý và vấn đề xã hội hoá Lâm nghiệp: Một số VQG đang thử nghiệm mô hình quản lý cộng đồng bằng cách giao khoán bảo vệ rừng cho nhóm cộng đồng có hoạt động khai thác các nguồn lợi lâm sản.
Về trách nhiệm họ phải bảo vệ toàn vẹn tài nguyên rừng, 8 không được khai thác cạn kiệt và huỷ diệt nguồn lợi lâm sản. Về quyền lợi, họ được sử dụng khôn khéo và bền vững tài nguyên rừng. • Về công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng : Các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức về rừng được tổ chức thường xuyên thông qua các hoạt động: giao lưu, xem phim, họp cộng đồng,…và đã đạt được những kết quả nhất định như: đưa trách nhiệm bảo vệ rừng vào hương ước của làng bắt mọi người trong làng phải cam kết thực. • Về kết quả đầu tư ngân sách: Các đơn vị đã hợp tác với chính quyền địa phương triển khai các gói thầu công trình phúc lợi như: xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng, trường học, trạm y tế, thà văn hoá xóm, đường xá, cầu cống… Chuyển giao các công trình này vào sử dụng đã phát huy hiệu quả thiết thực.
Các dự án này đã được đầu tư một khoản kinh phí đáng kể từ các cơ quan, tổ chức.