CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU DỰ ÁN 1. SỰ CẦN THIẾT THỰC HIỆN DỰ ÁN Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN) là một trong 3 vùng kinh tế trọng điểm lớn của nước ta, bao gồm các tỉnh, thành phố: Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa– Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang.
Đây được xem là vùng KTTĐ lớn nhất và có tầm quan trọng đặc biệt đối với phát triển kinh tế- xã hội của cả nước. Vùng KTTĐPN có diện tích tự nhiên trên 30.000 km2, dân số năm 2005 là 15,04 triệu người, đóng góp khoảng 15% sản lượng nông nghiệp, 63,7% sản lượng công nghiệp và 39% nguồn thu dịch vụ cho cả nước, tương đương 37% tổng sản phẩm quốc nội. Tuy nhiên, với trên 80% diện tích tự nhiên (DTTN) nằm trong lưu vực hệ thống sông Đồng Nai, sự phát triển kinh tế- xã hội của vùng KTTĐPN luôn gắn chặt với tài nguyên nước và được thúc đẩy mạnh mẽ hơn bởi quá trình phát triển thuỷ lợi trên lưu vực này. Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai là lưu vực sông nội địa lớn nhất nước, với diện tích khoảng 41.000 km 2, hợp cùng với các lưu vực sông nhỏ ven biển từ Ninh Thuận đến Bà Rịa-Vũng Tàu tạo thành một vùng có điều kiện tự nhiên rất đa dạng và phong phú, có tiềm năng phát triển trên nhiều lĩnh vực và cũng là vùng có tốc độ phát triển kinh tế cao nhất nước.
Để phát triển và phát triển bền vững, việc khai thác và sử dụng hợp lý nguồn nước trên lưu vực sông Đồng Nai nói chung và trong nội vùng vùng KTTĐPN nói riêng có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Nó không chỉ là vấn đề cấp nước cho nông nghiệp, công nghiệp, dân sinh, mà còn cho thuỷ điện, giao thông thuỷ, thuỷ sản, du lịch-dịch vụ, và cả cho bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, bên cạnh việc cần nhiều nước hơn cho phát triển kinh tế- xã hội, thì lũ lụt và hạn hán cũng có chiều hướng gia tăng, sự xuống cấp môi trường cũng ngày càng nghiêm trọng, vì thế rất cần đến phát triển thuỷ lợi ở quy mô cao hơn, quản lý nước và quản lý lưu vực sông ở tầm xa hơn. Để phát triển kinh tế- xã hội vùng KTTĐPN, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công tác thuỷ lợi là cung cấp đủ nước với độ ổn định cao nhất có thể cho dân sinh, công nghiệp, cung cấp đủ nước cho phát triển nông nghiệp và bảo vệ môi trường, xem xét cấp nước ở mức độ hợp lý cho phát triển thuỷ sản và đảm bảo giao thông thuỷ.
Vùng KTTĐPN với tổng dân số cao, các khu công nghiệp phát triển, lại thêm du lịch và dịch vụ ngày càng trở nên quan trọng, nên việc cấp nước trở nên là yêu cầu cấp bách mang tính chiến lược, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của cả vùng. Hơn thế nữa, toàn bộ vùng KTTĐPN lại nằm ở hạ lưu vực sông Đồng Nai, hứng chịu toàn bộ những tác động từ phía thượng lưu, đặc biệt là trên dòng chính sông Đồng Nai (trong đó có sông La Ngà), sông Bé và sông Sài Gòn. Chính vì thế, việc cấp nước cho vùng KTTĐPN vừa mang tính “đáp ứng nhu cầu”, vừa mang tính “giảm thiểu tác động”, với sự chọn lựa các phương án phát triển ở thượng lưu mang tính “tổng hợp và đa mục tiêu” cao nhất. Chính vì thế, bài toán cấp nước cho vùng 14 Tieu luan Dự án “Quy hoạch tài nguyên nước vùng kinh tế trọng điểm phía Nam” KTTĐPN vừa giải quyết những vấn đề trong nội tại vùng thượng lưu, những vấn đề liên quan đến các lưu vực sông khác, mà quan trọng hơn hết, là những vấn đề cho hạ lưu.
Trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội, các hoạt động liên quan đến khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên nước diễn ra ngày càng mạnh mẽ do nhu cầu của các hộ dùng nước không ngừng tăng cao kể cả chất lượng và số lượng. Các hoạt động nhằm cung cấp, phân phối, chia sẻ nguồn nước cho các nhu cầu sử dụng nước là một trong những yếu tố quan trọng cho sự phát triển của xã hội hiện đại. Vùng KTTĐPN là nơi tập trung nhiều hộ khai thác, sử dụng nước lớn, đặc biệt là các hộ dùng nước cho công nghiệp (cho phát điện và phát triển sản xuất các ngành công nghiệp khác), nông nghiệp với nhu cầu và lợi ích khác nhau về không gian và thời gian đã làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong quá trình khai thác, sử dụng. Cùng với việc phát triển các ngành công nghiệp, lượng nước thải gia tăng nhanh chóng.
Các khu công nghiệp tại vùng KTTĐPN tập trung quy mô lớn, đặc biệt là các khu vực Biên Hòa– Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Long An, Bà Rịa – Vũng Tàu; các tỉnh đều có hàng chục cụm công nghiệp quy mô vừa và nhỏ. Hầu hết các khu công nghiệp tập trung đều được bố trí dọc các trục giao thông quan trọng, tuy thuận lợi về giao lưu, vận chuyển nhưng rất bất lợi môi trường, an toàn giao thông và nhất là cấp và thải nước. Do việc xử lý chất thải tại các khu đô thị tập trung và các KCN chưa được kiểm soát, giám sát chặt chẽ nên nguồn nước bị ô nhiễm khá nghiêm trọng, đặc biệt là vùng hạ lưu sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, sông Thị Vải. Hệ thống cấp nước tập trung trong vùng có các nhà máy nước ở các đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai.
Ngoài ra còn nhiều trạm cấp nước cục bộ nhỏ lẻ bằng giếng khoan nước dưới đất. Hệ thống thoát nước chủ yếu là cống ngầm, tuy nhiên hệ thống này lại không đồng bộ, khả năng thoát nước kém, hư hỏng nhiều, xuống cấp và không có hệ thống xử lý nước thải trước khi đổ vào sông thuô ̣c lưu vực sông Sài Gòn– Đồng Nai và thải ra biển. Nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, nước mưa trong vùng không được tách riêng và chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn đều dồn chung vào cùng hệ thống thải. Tóm lại, vùng KTTĐPN có vị trí, vai trò rất quan trọng; có thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của vùng; là đầu tàu phát triển trong sự nghiê ̣p công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n đại hóa đất nước.
Đây còn là nơi có nhiều hộ dùng nước lớn và cùng với sự phát triển mạnh của khu vực, đặc biệt là công nghiệp và đô thị, đã kéo theo các nhu cầu về khai thác, sử dụng nước trong vùng tăng lên nhanh chóng. Bên cạnh đó, do còn thiếu các biện pháp kiểm soát, xử lý về việc xả nước thải, các chất thải đã làm cho môi trường khu vực, đặc biệt là môi trường nước đang ở trong tình trạng ô nhiễm, xuống cấp nghiêm trọng, nguồn nước trên các lưu vực sông liên quan có xu hướng bị suy thoái, cạn kiệt. 15 Tieu luan Dự án “Quy hoạch tài nguyên nước vùng kinh tế trọng điểm phía Nam” Tính đến nay, mặc dù đã có một số nghiên cứu về tài nguyên nước hệ thống sông Sài Gòn– Đồng Nai, nhưng các nghiên cứu này vẫn còn mang tính đơn ngành và chủ yếu tập trung vào các vấn đề phát triển nguồn nước mà chưa đi sâu vào quy hoạch sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước trên cơ sở các nguyên tắc của quản lý tổng hợp tài nguyên nước, bảo đảm phát triển bền vững của khu vực. Thêm vào đó, các nghiên cứu quy hoạch trước đây liên quan đến tài nguyên nước chủ yếu đi sâu vào đề xuất các giải pháp công trình, chưa gắn giữa giải pháp công trình và phi công trình, chưa thống nhất giữa xây dựng- quản lý và bảo vệ, chưa kết nối giữa quản lý tài nguyên và khai thác, sử dụng phát triển tài nguyên, chưa lồng ghép việc xây dựng các biện pháp tuyên truyền, giáo dục cộng đồng và các biện pháp chế tài mang tính luật pháp, chưa phối hợp giữa giám sát, quản lý, vận hành và điều chỉnh.
Mặt khác, các nghiên cứu này được thực hiện vào những thời điểm, phạm vi khác nhau, nhiều nội dung đến nay đã không còn phù hợp với yêu cầu thực tế phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đối với vùng KTTĐ. Vì vậy, để đảm bảo phát triển bền vững cho vùng KTTĐPN, cần thiết phải sớm có nghiên cứu quy hoạch các ngành, đặc biệt là quy hoạch sử dụng tài nguyên nước đến 2015 và tầm nhìn đến 2020 có vị trí rất quan trọng và cần thiết để góp phần bảo vệ tốt nguồn tài nguyên nước và môi trường liên quan. CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ CĂN CỨ THỰC HIỆN DỰ ÁN - Quyết định số 146/2004/QĐ- TTg ngày 13 tháng 8 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế- xã hội vùng KTTĐPN đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. - Công văn số 2029/BTNMT- KHTC ngày 10 tháng 6 năm 2005 của Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính thừa lệnh Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc chuẩn bị nội dung thực hiện nhiệm vụ của Ban chỉ đạo Tổ chức điều phối các vùng kinh tế trọng điểm.
- Quyết định số 81/2006/QĐ- TTg ngày 14 tháng 4 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt “Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020”. - Quyết định số 1549/QĐ- BTNMT ngày 26 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt đề cương Dự án “Quy hoạch tài nguyên nước vùng kinh tế trọng điểm phía Nam”. - Các yêu cầu bảo vệ tài nguyên nước và môi trường có liên quan đến tài nguyên nước trên lưu vực sông; - Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội, tiềm năng nguồn nước trên lưu vực sông; - Các văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước, bảo vệ môi trường, bảo vệ và phát triển rừng và các văn bản pháp luật khác có liên quan; - Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội chung của đất nước; 16 Tieu luan Dự án “Quy hoạch tài nguyên nước vùng kinh tế trọng điểm phía Nam” - Các nghĩa vụ đối với các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia trong các lĩnh vực tài nguyên nước và môi trường. - Định hướng chiến lược phát triển bền vững (Chương trình nghị sự thế kỷ 21).