Chương I, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả’’. Việc QHSDĐ cần dựa trên những cơ sở pháp lý như sau: - Luật Đất đai năm 2003 (Luật số 13/2003/QH11 ngày 26/11/2003). - Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 (Luật số 29/2004/QH11 ngày 03 tháng 12 năm 2004). - Nghị quyết số 22/NĐ-TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế miền núi làm thay đổi bước đầu về cơ sở hạ tầng, giao thông, giáo dục, y tế… tạo ra môi trường kinh tế thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội.
Làm cơ sở định hướng cho việc QHSDĐ theo cơ chế thị trường. - Nghị định số 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Thủ tướng Chính phủ quy định về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích nông nghiệp. 14 - Nghị định số 181/2004/NĐ-CP của chính phủ về việc hướng dẫn công tác quy hoạch sử dụng đất vi mô và vĩ mô, QHSDĐ và giao đất lâm nghiệp. - Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
- Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng. - Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg, ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyê ̣t Chiế n lược phát triể n lâm nghiê ̣p Viê ̣t Nam giai đoa ̣n 2006-2020. - Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước giai đoạn 2011-2015. - Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.
- Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 05/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát, quy hoạch 3 loại rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất). - Thông tư số 05/2008/TT-BNN ngày 14/01/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng. - Thông tư số 95/2004/TT-BTC ngày 11/10/2004 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn một số chính sách hỗ trợ tài chính và ưu đãi về thuế phát triển vùng nguyên liệu và công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản và muối. - Quyết định số 38/2005/QĐ-BNN ngày 6/7/2005 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành định mức kinh tế kỹ thuật trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng và bảo vệ rừng.
15 * Văn bản của địa phương - Quyết định số 416/QĐ-UBND ngày 29/3/2007 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc phê duyệt kết quả rà soát quy hoạch ba loại rừng. - Quyết định số 2304/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc phê duyệt Quy hoạch tổ ng thể phát triển kinh tế -xã hô ̣i huyê ̣n Yên Thế , giai đoa ̣n 2007-2020. - Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 29/6/2009 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc phê duyệt Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2009-2020. - Quyết định số 1577/QĐ-UBND ngày 30/9/2010 của UBND tỉnh Bắc Giang phê duyệt điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Bắc Giang.
- Quyết định số 2146/QĐ-UBND ngày 28/12/2010 của UBND tỉnh Bắc Giang phê duyệt Quy hoạch phát triển rừng sản xuất tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2010-2020. - Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Yên Thế lần thứ XX nhiệm kỳ 2011-2015. - Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Yên Thế lần thứ XX, nhiệm kỳ 2011-2015 1. Các nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V đã chỉ rõ: “Xúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất, nghiên cứu chiến lược kinh tế xã hội, dự thảo kế hoạch triển vọng để chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm sau (1986 - 1990)” Các tác giả: Phạm Văn Chiểu (1964), Bùi Huy Đáp (1977), Vũ Tuyên Hoàng (1987), Lê Trọng Cúc (1971), Nguyễn Ngọc Bình (1987, Bùi Quang Toản (1991) đã có nhiều công trình nghiên cứu về luân canh tăng vụ, trồng xen, trồng gối vụ với mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai.
Bên cạnh 16 đó, những nghiên cứu lựa chọn hệ thống cây trồng phù hợp trên đất dốc vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam cũng đã được nhiều tác giả đề cập đến. Năm 1993, nghiên cứu và thí điểm đầu tiên về quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp cấp xã do dự án đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiệp thực hiện tại xã Tử Nê, xã Hang Kìa và xã Pà Cò thuộc Tỉnh Hòa Bình. Một trong những bài học rút ra được qua việc thực thi dự án là công tác quy hoạch sử dụng đất phải được coi là một nội dung chính và cần được thực hiện trước khi giao đất trên cơ sở tôn trọng tập quán nương rẫy cố định, lấy xã làm đơn vị để lập kế hoạch và giao đất, có sự tham gia tích cực của người dân, già làng, trưởng bản và chính quyền xã. Hạn chế của chương trình này là chưa có kế hoạch sử dụng chi tiết nên khó tránh khỏi các mâu thuẫn của cộng đồng phát sinh sau quy hoạch.
Năm 1994, Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã xây dựng kế hoạch và triển khai công tác quy hoạch sử dụng đất trên quy mô cả nước giai đoạn 1995 - 2000. Trong đó, việc lập kế hoạch giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào mục đích khác cũng được đề cập tới. Báo cáo đánh giá tổng quát hiện trạng sử dụng đất và định hướng phát triển đến năm 2000 làm căn cứ để các địa phương, các ngành thống nhất triển khai công tác lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất [21]. Nguyễn Xuân Quát (1996) [14], đã phân tích tình hình sử dụng đất đai và đề xuất mô hình sử dụng đất tổng hợp bền vững, mô hình khoanh nuôi phục hồi rừng ở Việt Nam.
Đồng thời, đưa ra tập đoàn cây trồng thích hợp cho các mô hình sử dụng đất tổng hợp bền vững trong công trình nghiên cứu “Sử dụng đất tổng hợp và bền vững”. Các vấn đề sử dụng đất đai gắn liền với bảo vệ độ phì nhiêu của đất và môi trường vùng đồi núi trung du phía Bắc Việt Nam, đã được Lê Vĩ (1996) đề cập tới trên các khía cạnh: Tiềm năng đất vùng trung du; Hiện trạng sử dụng đất vùng trung du; Các kiến nghị về sử dụng đất bền vững. 17 Vũ Văn Mễ và Desloges (1996) [10], thử nghiệm phương pháp quy hoạch sử dụng đất có người dân tham gia tại Quảng Ninh đã đề xuất 6 nguyên tắc và các bước cơ bản trong QHSDĐ trong đó cấp xã đóng vai trò phát triển trong phương pháp quy hoạch, gồm: Kết hợp hài hoà giữa ưu tiên của Chính phủ và nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân địa phương; Tiến hành trong khuôn khổ luật định và các nguồn lực hiện có tại địa phương; Đảm bảo tính công bằng, chú ý đến cộng đồng dân tộc miền núi, nhóm người nghèo và vai trò của phụ nữ; Đảm bảo tính bền vững; Đảm bảo nguyên tắc cùng tham gia; Kết hợp hướng tới mục tiêu phát triển cộng đồng. Luật Đất đai năm 2003 quy định cụ thể về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Điều 21 quy định nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Điều 22 quy định căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Điều 23 quy định nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Điều 25 quy định rõ cả 4 cấp hành chính trong cả nước phải lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Điều 26 quy định về thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Điều 29 thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất [16].
Quy hoạch vùng lãnh thổ * Quy hoạch vùng chuyên canh Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, nước ta đã quy hoạch các vùng chuyên canh lúa ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, các vùng rau thực phẩm cho các thành phố lớn, các vùng cây công nghiệp ngắn ngày (hàng năm): Vùng Bông Thuận Hải, vùng Đay Hải Dương, vùng Thuốc lá Quảng An (Cao Bằng), Ba Vì (Hà Nội), Hữu lũng (Lạng Sơn), Nho Quan (Ninh Bình), vùng Mía Vạn Điểm, Việt Trì, Sông Lam, Quảng Ngãi,… Các vùng cây công nghiệp dài ngày (lâu năm): Vùng Cao su Sông Bé, Đồng Nai, Buôn Hồ (Đắc Lắc), Chư Pả, Ninh Đức (Gia lai Kon Tum), vùng Chè ở Hoàng Liên Sơn, Mộc Châu, Thái Nguyên, Lâm Đồng, Gia Lai Kon Tum, vùng Dâu tằm Bảo Lộc (Lâm Đồng),… 18 Quy hoạch vùng chuyên canh có tác dụng: xác định phương hướng sản xuất, chỉ ra những vùng chuyên môn hoá và những vùng có khả năng hợp tác quốc tế; xác định và chọn những vùng trọng điểm để nhà nước tập trung đầu tư vốn đúng đắn; xây dựng được cơ cấu sản xuất, các chỉ tiêu sản xuất sản phẩm và sản phẩm hàng hoá của vùng, yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản xuất, nhu cầu lao động; làm cơ sở để xây dựng kế hoạch phát triển, nghiên cứu tổ chức quản lý kinh doanh theo ngành và theo lãnh thổ. Quy hoạch vùng chuyên canh thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là bố trí cơ cấu cây trồng được chọn với quy mô và chế độ canh tác hợp lý, theo hướng tập trung để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm cây trồng, đồng thời phân bố các chỉ tiêu nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ sở sản xuất, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, kế hoạch của các cơ sở sản xuất. Quy hoạch vùng chuyên canh có các nội dung chủ yếu: Xác định quy mô, ranh giới vùng; Xác định phương hướng, chỉ tiêu nhiệm vụ sản xuất; Bố trí sử dụng đất đai; Xác định quy mô, ranh giới nhiệm vụ chủ yếu cho các xí nghiệp trong vùng và tổ chức sản xuất ngành nông nghiệp; Xác định hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất đời sống; Tổ chức và sử dụng lao động; Ước tính đầu tư và hiệu quả kinh tế; Dự tính tiến độ thực hiện quy hoạch.