Chương 1: Những vấn đề chung về chế độ pháp lý đối với hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ Chương 2: Một số qui định của pháp luật Hoa Kỳ về hàng hoá nhập khẩu Chương 3: Những vướng mắc đặt ra cho Việt Nam trong hoạt động xuất khẩu hàng hoá vào Hoa Kỳ và giải pháp khắc phục về mặt pháp lý. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI HÀNG HOÁ NHẬP KHẨU VÀO HOA KỲ 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÀNG HOÁ NHẬP KHẨU VÀO HOA KỲ 1.1 Khái niệm hàng hoá nhập khẩu Do có sự khác nhau về nguồn tài nguyên giữa các quốc gia (như vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên…) nên các luồng hàng hoá trên thế giới luôn di chuyển; hàng hoá của nước này thâm nhập vào thị trường của nước khác. Đồng thời, quá trình phân công chuyên môn hoá ngày càng sâu rộng cũng làm cho sự tác động lẫn nhau giữa các nền kinh tế của các nước tăng lên, thị trường các nước ngày càng chịu sự ảnh hưởng của hàng hoá nhập khẩu.
Theo tác giả GS. Bùi Xuân Lưu, trong cuốn Giáo trình Kinh tế ngoại thương thì “Nhập khẩu là mua hàng hoá, dịch vụ của nước ngoài”.124] Theo nghĩa truyền thống thì hàng hoá nhập khẩu chỉ bao hàm các hàng hoá hữu hình như thiết bị máy móc, nguyên vật liệu, thực phẩm… Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nhu cầu ngày càng gia tăng của đời sống kinh tế, xã hội thì phạm vi hàng hoá nhập khẩu ngày càng mở rộng. Bên cạnh những hàng hoá hữu hình thì các hàng hoá vô hình như phần mềm máy tính, hàng hoá dịch vụ cũng trở thành đối tượng của hoạt động xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này, học viên chỉ nghiên cứu các vấn đề liên quan tới hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá hữu hình mà thôi.
Trong thương mại hàng hoá, giao dịch nhập khẩu truyền thống điển hình là hàng hoá được nhập khẩu trọn gói, tức là nhập khẩu thành phẩm vào một nước. Nhưng cũng có thể hàng hoá đã trải qua nhiều lần giao dịch, trong đó hàng hoá TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được nhập vào một quốc gia, lắp ráp thêm linh phụ kiện và trở thành hàng hoá nhập khẩu đến nước khác. Theo thuật ngữ thương mại thông thường thì hàng hoá nhập khẩu là luồng hàng hoá được đưa vào thị trường một nước để tiêu dùng [8, tr. Trên thực tế, chúng ta có thể thấy có những hàng hoá được nhập khẩu để sử dụng cho mục đích nào đó nhưng không phải vì mục đích bán.
Ví dụ như các trang phục mẫu do các nhà sản xuất nhập làm mẫu; các tạp chí, catalog thời trang và ảnh phục vụ giới thiệu hàng và quảng cáo; hàng hóa phục vụ mục đích thử nghiệm, thí nghiệm; các tác phẩm nghệ thuật, bản vẽ, in ấn, ảnh chụp, máy móc khoa học do các nghệ sỹ chuyên nghiệp, giảng viên hoặc nhà khoa học đưa từ nước ngoài vào để dự triển lãm, minh hoạ, xúc tiến và khuyến khích nghệ thuật; ô tô, mô tô, xe đạp, máy bay, bóng thám không, tàu thủy, xe đua và các phương tiện tương tự khác và các thiết bị liên quan được người nước ngoài tạm đưa vào để tham gia các cuộc đua chẳng hạn… Tất cả các hàng hoá thuộc loại này đều được nhập khẩu theo thủ tục hàng tạm nhập không phải nộp thuế, nhưng sẽ phải tái xuất trong một khoảng thời gian nhất định. Ở nhiều nước, các hàng hoá này còn phải có bảo chứng- một loại chứng từ cam kết bảo lãnh hàng hoá với giá trị gấp đôi số tiền thuế ước tính phải nộp để tránh trường hợp hàng không được tái xuất. Như vậy, hàng hoá nhập khẩu không phải chỉ là loại hàng hoá dịch chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác mà nó còn có đặc điểm là được sử dụng cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh ở nước nhập khẩu. Tóm lại, trong khuôn khổ của luận văn này, học viên nghiên cứu hàng hoá nhập khẩu với các dấu hiệu sau: * Có sự dịch chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác.
* Là hàng hoá hữu hình: hàng tiêu dùng, nguyên vật liệu… * Được sử dụng cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh ở quốc gia nhập khẩu hàng hoá (không phải là hàng hoá tạm nhập- tái xuất).2 Vai trò của hàng hoá nhập khẩu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khi xuất khẩu được hàng hoá sang thị trường nước khác thì nước xuất khẩu thu được rất nhiều lợi ích như: - Thu được nhiều ngoại tệ - Thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển - Tạo việc làm cho người lao động Ngược lại, hàng hoá nhập khẩu cũng có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của nước nhập khẩu. Điều đó thể hiện ở những mặt sau: Thứ nhất, đó là nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu cho sản xuất trong nước. Không phải nước nào cũng có đủ nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho sản xuất trong nước mình. Chính vì vậy, nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu từ nước khác luôn là phần bù đắp thiếu hụt, giúp ổn định ngành sản xuất.
Thứ hai, hàng hoá nhập khẩu còn góp phần thúc đẩy lợi thế sản xuất, đổi mới cơ cấu ngành trong nước cho phù hợp với lợi thế so sánh của nước mình. Thứ ba, hàng hoá nhập khẩu còn giúp xây dựng thị trường có tính chất cạnh tranh, tăng cường cạnh tranh giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, tiến tới cải thiện công nghệ quản lý, công nghệ kỹ thuật và cuối cùng giảm giá bán cho người tiêu dùng. Thứ tư, hàng hoá nhập khẩu góp phần thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước khi sản xuất trong nước chưa đáp ứng được, hoặc tăng cường cơ hội cũng như phạm vi lựa chọn cho người tiêu dùng. Như vậy, hàng hoá nhập khẩu góp phần thoả mãn nhu cầu trực tiếp của người dân về hàng tiêu dùng, đảm bảo đầu vào cho sản xuất và tạo việc làm ổn định cho người lao động.
Tuy nhiên, tác động của hàng hoá nhập khẩu đến thị trường nước nhập khẩu không phải lúc nào cũng làm hài lòng các chủ thể của nền kinh tế bắt nguồn từ sự phát triển không đều và sự khác biệt trong điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia, do sự chênh lệch về khả năng cạnh tranh giữa các công ty trong nước với các công ty nước ngoài… Do tác động của mặt trái của cơ chế thị trường, nếu các doanh nghiệp nhập khẩu chỉ chạy theo lợi nhuận thì hàng hoá nhập khẩu sẽ không đem lại hiệu quả TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chung cho nền kinh tế. Ví dụ như: sử dụng nguồn vốn lớn mà không đem lại hiệu quả tương ứng; hàng hoá nhập khẩu là các công nghệ, máy móc lạc hậu; hàng hoá nhập khẩu tương đồng với hàng hoá trong nước cũng sản xuất được làm cho nền sản xuất trong nước bị suy thoái … thì hàng hoá nhập khẩu không phát huy vai trò thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Trên đây là hai tác động ngược chiều của hàng hoá nhập khẩu đến thị trường trong nước. Trong thực tế, hai tác động này song song tồn tại và cũng xuất phát từ đây, xu hướng tự do hoá thương mại (tức là nhà nước áp dụng các biện pháp cần thiết để từng bước giảm thiểu những trở ngại trong hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc nhập khẩu hàng hoá) và xu hướng bảo hộ mậu dịch (tức là chủ trương hạn chế nhập khẩu) xuất hiện.
Giữa hai xu hướng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và chúng được sử dụng kết hợp với nhau. Tuỳ theo các điều kiện và đặc điểm cụ thể mà người ta sử dụng và khéo léo kết hợp hai xu hướng trên. Có thể nói, trong một chừng mực nào đó, các quốc gia đều sử dụng các công cụ bảo hộ mậu dịch với những mức độ khác nhau. Công cụ này mang tính tự vệ, hỗ trợ cho các ngành sản xuất trong nước trong quá trình cạnh tranh với hàng hoá từ bên ngoài.2 CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI HÀNG HOÁ NHẬP KHẨU VÀO THỊ TRƢỜNG HOA KỲ 1.1 Vai trò của pháp luật trong việc quản lý hàng hoá nhập khẩu Tuy hàng hoá nhập khẩu có vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế- xã hội của các quốc gia nhưng các nước nhập khẩu đều có xu hướng quản lý hoạt động nhập khẩu này bằng pháp luật để bảo hộ sản xuất trong nước.
Trong lịch sử thương mại thế giới, chính sách tự do hoá thương mại và các học thuyết liên quan đã luôn khuyến khích các quốc gia mở cửa thị trường, không áp đặt chế độ bảo hộ mậu dịch. Tuy vậy, quá trình thực hiện và truyền bá lý luận tự do thương mại mà học thuyết chi phí so sánh (của David Ricardo) là nền tảng đã diễn ra không được thuận buồm xuôi gió. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ nhất là do ngay từ trong thời kỳ chủ nghĩa trọng thương thống trị, tức là vào thế kỷ 15, 16, đã có chủ nghĩa bảo hộ rồi. Các quốc gia luôn muốn áp đặt các biện pháp kiểm soát chặt chẽ và hạn chế nhập khẩu với mục đích bảo hộ ngành sản xuất trong nước.
Hơn nữa, sự ảnh hưởng của hàng hoá nhập khẩu đến các vấn đề của quốc gia cũng là nguyên do khiến các nước cảm thấy lo ngại về chủ quyền quốc gia của mình. Ngay như các thành viên của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) cũng nhận thức được rằng, do bị ràng buộc bởi điều kiện kinh tế và môi trường chính trị, nên không thể thực hiện được chính sách tối ưu hoá, tự do hoá thương mại. Rồi cuộc khủng hoảng kinh tế nặng nề trong lịch sử chủ nghĩa tư bản nổ ra cuối những năm 20 đầu những năm 30 của thế kỷ XX báo hiệu rằng: muốn cho nền kinh tế quốc dân phát triển vững chắc, lâu dài thì ngoài bàn tay vô hình ra, còn phải có bàn tay hữu hình của nhà nước điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô. Trong đó đặc biệt chú ý đến chính sách liên quan đến bàn tay hữu hình- sự điều chỉnh của nhà nước.
Các học thuyết về vấn đề này đã tạo thành một lý luận thương mại quốc tế mới.