PHẦN MỞ ĐẦU CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ MẠO HIỂM VÀ QUỸ ĐẦU TƢ MẠO HIỂM 1. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. VAI TRÕ QUỸ ĐẦU TƢ MẠO HIỂM ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP 1.
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN QUỸ ĐẦU TƢ MẠO HIỂM TẠI MỘT SỐ NƢỚC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM NÓI CHUNG VÀ HẢI DƢƠNG NÓI RIÊNG CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƢ MẠO HIỂM TẠI VIỆT NAM 2. HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƢ MẠO HIỂM TẠI VIỆT NAM. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƢ MẠO HIỂM 2.
NHU CẦU VỐN CHO ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƢƠNG CHƢƠNG 3. THÀNH LẬP VÀ PHÁT TRIỂN “QUỸ ĐẦU TƢ MẠO HIỂM” GÓP PHẦN VÀO HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CHO CÁC DOANH NGHIỆP TẠI HẢI DƢƠNG 3. MÔ HÌNH TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG QUỸ ĐẦU TƢ MẠO HIỂM CHO CÁC DOANH NGHIỆP TẠI HẢI DƢƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP THÖC ĐẨY SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN QUỸ ĐẦU TƢ MẠO HIỂM THAM GIA VÀO HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CHO CÁC DOANH NGHIỆP TẠI HẢI DƢƠNG 3.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THU HÖT VỐN ĐẦU TƢ TỪ QUỸ ĐẦU TƢ MẠO HIỂM ĐỂ CÁC DOANH NGHIỆP Ở HẢI DƢƠNG THỰC HIỆN ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ KẾT LUẬN KHUYẾN NGHỊ 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ MẠO HIỂM VÀ QUỸ ĐẦU TƢ MẠO HIỂM 1. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Công nghệ và đổi mới công nghệ 1.
Công nghệ Thuật ngữ công nghệ đƣợc hình thành từ khá lâu và đƣợc sử dụng khá phổ biến, đã có nhiều tổ chức quốc tế về KH&CN cố gắng đƣa ra một định nghĩa công nghệ có thể dung hoà các quan điểm, đồng thời tạo thuận lợi cho việc phát triển và hoà nhập của các quốc gia, trong từng khu vực và phạm vi toàn cầu. Theo quan niệm cổ điển nhất, công nghệ là một trật tự nghiêm ngặt các thao tác của quá trình chế biến vật chất và/hoặc thông tin.Root, "công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng đƣợc vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới".Jones, năm 1970 cho rằng "công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực đƣợc chuyển thành hàng hoá".Baranson, năm 1976 đƣa ra "công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc/và các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh".Dunning, năm 1982, "công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức đƣợc áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và việc nghiên cứu tiếp cận thị trƣờng cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới". Các quan niệm trên, mỗi quan niệm đều nêu ra đƣợc một số đặc điểm về công nghệ, các quan niệm trên đều có phần đúng, tuy nhiên vẫn còn thiếu. Xin đƣợc dẫn ra hai khái niệm khá đầy đủ và hiện nay đang đƣợc dùng rộng rãi: - Theo Luật KH&CN của Việt Nam, năm 2000 đã đƣa ra định nghĩa: "công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm".
- Theo Luật chuyển giao công nghệ, năm 2006: "công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm". Trên cơ sở tập hợp và khái quát các định nghĩa về công nghệ nêu trên, tác giả tuân theo khái niệm: công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Đổi mới công nghệ Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, do nhu cầu càng cao của con ngƣời do tiến bộ của tri thức và khoa học, do cạnh tranh… nên nhu cầu về sản phẩm ngày càng cao và đa dạng cùng với yêu cầu cao trong việc tiết kiệm chi phí. Do vậy công nghệ luôn đƣợc thay đổi, cải tiến không ngừng để thoả mãn nhu cầu đó nên việc thay đổi công nghệ là một xu thế tất yếu của hệ thống công nghệ toàn cầu và đã mang lại những hiệu quả to lớn đối với sự phát triển của từng DN, mỗi quốc gia và toàn thế giới, nhờ liên tục ĐMCN.
Vậy ĐMCN là gì? Đó chính là cấp cao nhất của thay đổi công nghệ và là quá trình quan trọng nhất của sự phát triển đối với tất cả các hệ thống công nghệ. Để có thể quản lý đƣợc hoạt động đổi mới thì cần tập trung vào những vấn đề cơ bản tất cả các thay đổi nhỏ về công nghệ ta chỉ coi là cải tiến công nghệ. Do đó ta đƣa ra khái niệm ĐMCN nhƣ sau: ĐMCN là sự chủ động thay thế một phần đáng kể (cốt lõi, cơ bản) hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng công nghệ khác. ĐMCN là một tiến bộ về công nghệ, tiến bộ này dƣới dạng một phƣơng pháp mới về sản xuất, một kỹ thuật mới về tổ chức, quản lý, marketing, mà nhờ chúng sản phẩm sản xuất ra sẽ có năng suất cao hơn, chất lƣợng tốt hơn, chi phí sản xuất thấp hơn và do đó sẽ tạo đƣợc vị thế cạnh tranh trong DN về mặt giá thành hay về sự khác biệt của sản phẩm.
ĐMCN có thể là đƣa ra hoặc ứng dụng những công nghệ hoàn toàn mới hoặc mới sử dụng lần đầu trong hoàn cảnh mới. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Peter Drucker, nhà kinh tế học nổi tiếng ngƣời Áo cho rằng xét ở góc độ quản trị kinh doanh, có hai nhiệm vụ hàng đầu mà một DN luôn phải thực hiện đó là tiếp thị (marketing) và ĐMCN (innovation). Nếu chức năng tiếp thị là nhằm thoả mãn các những nhu cầu hiện tại của ngƣời tiêu dùng thì ĐMCN nhằm thoả mãn nhu cầu tƣơng lai của khác hàng. Nếu thiếu khả năng và sự kiên trì, bền bỉ trong việc ĐMCN thì DN sẽ sớm bị đào thải khỏi thƣơng trƣờng khi nhu cầu khách hàng, công nghệ thay đổi và cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn.
Do đó đối với một DN, ĐMCN luôn đƣợc sử dụng nhƣ một nhân tố trong chiến lƣợc cạnh tranh. Trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật chƣa có một định nghĩa cụ thể và chính thống nào cho khái niệm này, tuy nhiên, về cốt lõi có thể có 5 trƣờng hợp ĐMCN: (1) Đƣa ra sản phẩm mới; (2) Đƣa ra một phƣơng pháp sản xuất mới hoặc thƣơng mại mới; (3) Chinh phục thị trƣờng mới; (4) Sử dụng nguồn nguyên liệu mới; (5) Tổ chức mới đơn vị sản xuất. Vai trò của đổi mới công nghệ Công nghệ là một sản phẩm đặc biệt của con ngƣời và trƣớc hết nó cũng là một sản phẩm cho nên nó cũng tuân theo quy luật chu trình sống của sản phẩm. Tức là nó cũng đƣợc sinh ra, phát triển và cuối cùng là bị đào thải.
Chính vì lẽ đó việc quan tâm đặc biệt đến ĐMCN sẽ gắn chặt đến lợi ích sống còn của DN, đến sự phát triển của nền kinh tế. Nếu một quốc gia nào, hay một DN nào không có những hoạt động nhằm không ngừng ĐMCN thì chắc chắn ở quốc gia đó ở DN đó không thể có sự phát triển. Một điều quan trọng đó là ĐMCN sẽ mang lợi ích cho DN đổi mới cũng nhƣ cho nền kinh tế, các lợi ích đó là: - ĐMCN cải thiện, nâng cao chất lƣợng sản phẩm, đây là một lợi ích thiết thực, trực tiếp và đƣợc các DN đặt lên hàng đầu. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Từ việc nâng cao đƣợc chất lƣợng sản phẩm sẽ làm cho DN duy trì, củng cố và mở rộng thị phần của sản phẩm.
- Một lợi ích rất quan trọng khác đó là ĐMCN sẽ mở rộng phẩm cấp của sản phẩm, tạo thêm chủng loại sản phẩm mới. - Đáp ứng đƣợc các quy định, tiêu chuẩn, luật lệ và các quy định ngày càng khắt khe đƣợc thế giới và các quốc gia xây dựng lên. - Giảm tiêu hao nguyên liệu, năng lƣợng, đây là một lợi ích hết sức quan trọng, nhất là trong bối cảnh thế giới đang lâm vào cảnh thiếu năng lƣợng, giá xăng dầu tăng rất cao. - Cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao độ an toàn sản xuất cho con ngƣời và thiết bị.
- Giảm tác động xấu đến môi trƣờng tự nhiên nói chung và môi trƣờng sống nói riêng. Vì tất cả các lý do kể trên có thể khẳng định ĐMCN là một tất yếu phù hợp với quy luật phát triển. Công nghệ và ĐMCN có ý nghĩa quyết định nâng cao khả năng cạnh tranh của DN bằng việc nâng cao năng xuất, chất lƣợng hạ giá thành sản phẩm. Trong điều kiện còn gặp nhiều khó khăn về vốn để đầu tƣ ĐMCN các DN ở Hải Dƣơng rất cần sự đầu tƣ vốn từ các nguồn vốn khác, đặc biệt là vốn đầu tƣ từ Quỹ đầu tƣ mạo hiểm để ĐMCN.
Thị trường chứng khoán 1. Chứng khoán Chứng khoán là chứng chỉ xác định các quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tƣ chứng khoán và các chứng khoán khác theo qui định của pháp luật. Thị trường chứng khoán Có nhiều khái niệm về TTCK khác nhau, nhƣng nhìn chung có thể dẫn ra một khái niệm có tính phổ biến: TTCK là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com TTCK phải tồn tại ở một nơi mà ở nơi đó việc mua bán chứng khoán đƣợc thực hiện.
Trong quá trình phát triển và hoàn thiện TTCK ở các nƣớc có nền sản xuất và lƣu thông hàng hóa lâu đời nhƣ Mỹ, Anh, Pháp,… nơi đó tồn tại dƣới hai hình thức: TTCK có tổ chức và TTCK phi tổ chức. Hình thái điển hình của TTCK có tổ chức là Sở giao dịch chứng khoán. Mọi việc mua, bán, chuyển nhƣợng, trao đổi chứng khoán phải tiến hành trong Sở giao dịch và thông qua các thành viên, theo quy chế của Sở giao dịch chứng khoán. Sở giao dịch chứng khoán có thể là tổ chức sở hữu nhà nƣớc, là DN cổ phần hoặc một hiệp hội và đều có tƣ cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán.