CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Vốn lưu động và nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động của doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn lưu động của doanh nghiệp Trước hết ta cần hiểu doanh nghiệp là gì? Theo điều 4, Luật Doanh nghiệp 2014 thì: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đính kinh doanh.” Đối với bất kì một DN nào, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì ngoài các tư liệu lao động cần phải có các đối tượng lao động.
Những đối tượng lao động như: nguyên liệu, vật liệu, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang…, nếu xét về hình thái hiện vật thì gọi là TSLĐ của DN. TSLĐ của DN gồm 2 bộ phận: - Tài sản lưu động sản xuất: Gồm một bộ phận là những vật tư dự trữ để đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục như nguyên vật liệu, nhiên liệu… và một bộ phận là những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất như: sản phẩm dở dang, bán thành phẩm… - Tài sản lưu động lưu thông: Là TSLĐ dùng trong quá trình lưu thông của DN như: thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán… Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục đòi hỏi DN phải có một lượng tài sản lưu động nhất định. Do đó, để hình thành nên các tài sản lưu động DN phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định đầu tư vào các tài sản đó. Số vốn này gọi là VLĐ của DN.
Sinh viên: Hồ Phương Linh 4 Lớp: CQ54/11.06 Học viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp “Vốn lưu động là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc điểm vốn lưu động của doanh nghiệp - Là biểu hiện bằng tiền về mặt giá trị của TSLĐ nên đặc điểm của VLĐ bị chi phối bởi những đặc điểm của TSLĐ. Một là, VLĐ trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện cụ thể: Trong doanh nghiệp sản xuất thì VLĐ chuyển hoá qua 3 giai đoạn, khái quát qua sơ đồ sau: T – H ……SX……H’ – T’ Trong đó: Giai đoạn 1: Giai đoạn dự trữ vật tư, vốn bằng tiền chuyển sang vật tư dự trữ. Giai đoạn 2: Giai đoạn sản xuất, VLĐ chuyển từ vật tư dự trữ thành sản phẩm dở dang, bán thành phẩm và kết thúc quá trình sản xuất chuyển thành thành phẩm.
Giai đoạn 3: Giai đoạn lưu thông, VLĐ chuyển từ hình thái thành phẩm, hàng hoá thành tiền. (*) Trong doanh nghiệp thương mại VLĐ vận động và chuyển hóa qua 2 giai đoạn, khái quát qua sơ đồ sau: T – H – T’ (Với T’ = T + ∆T) Trong đó: Giai đoạn 1: giai đoạn mua hàng, VLĐ chuyển hoá từ vốn bằng tiền thành hàng hoá dự trữ. Sinh viên: Hồ Phương Linh 5 Lớp: CQ54/11.06 Học viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp Giai đoạn 2: giai đoạn bán hàng, VLĐ chuyển hoá từ hàng hoá dự trữ thành vốn bằng tiền. Hai là, vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh Ba là, vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh.
Phân loại vốn lưu động của doanh nghiệp Để quản lý, sử dụng hiệu quả VLĐ, doanh nghiệp cần phải tiến hành phân loại nhất định theo từng mục tiêu quản lý của mình. Thông thường có những cách phân loại chủ yếu sau: (*) Dựa vào hình thái biểu hiện của VLĐ, có thể phân chia VLĐ thành: + Vốn bằng tiền và các khoản phải thu Vốn bằng tiền gồm: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. Các khoản phải thu: Chủ yếu là các khoản phải thu của khách hàng, thể hiện ở số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng, cung ứng dịch vụ dưới hình thức bán hàng trước trả sau và những khoản trả trước cho người bán + Vốn vật tư, hàng hóa: bao gồm vốn tồn kho nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm. Cụ thể: Vốn nguyên vật liệu chính: Là giá trị các loại nguyên vật liệu chính dự trữ cho sản xuất, khi tham gia vào sản xuất, chúng hợp thành thực thể của sản phẩm.
Vốn vật liệu phụ: Là giá trị các loại vật liệu phụ dự trữ cho sản xuất, giúp cho việc hình thành sản phẩm, nhưng không hợp thành thực thể chính của sản phẩm, chỉ làm thay đổi mầu sắc, mùi hương, hình dáng bên ngoài của sản phẩm, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh được thuận lợi. Sinh viên: Hồ Phương Linh 6 Lớp: CQ54/11.06 Học viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp Vốn nhiên liệu: Là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn phụ tùng thay thế: Là giá trị các loại vât tư dùng để thay thế, sửa chữa các tài sản cố định. Vốn vật tư đóng gói: Là giá trị của các loại vật liệu bao bì dùng để đóng gói sản phẩm trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Vốn công cụ dụng cụ: Là giá trị các loại công cụ dụng cụ không đủ tiêu chuẩn tài sản cố định dùng cho hoạt động kinh doanh. Vốn sản phẩm dở dang: Là biểu hiện bằng tiền các chi phí SXKD đã bỏ ra cho các sản phẩm đang trong quá trình sản xuất. Vốn về chi phí trả trước: là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác dụng cho nhiều chu kỳ SXKD nên chưa thể tính hết vào giá thành sản phẩm trong kỳ này, mà được tính dần vào giá thành phẩm của các kỳ tiếp theo như chi phí cải tiến kỹ thuật, chí phí nghiên cứu thí nghiệm. Vốn thành phẩm: Là giá trị các sản phẩm đã được sản xuất xong, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và đã được nhập kho.
Trong doanh nghiệp thương mại, vốn về vật tư, hàng hóa chủ yếu là giá trị của các loại hàng hóa dự trữ. Kết luận: Việc phân loại VLĐ theo cách này tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của DN. Mặt khác, thông qua cách phân loại này có thể tìm các biện pháp phát huy chức năng các thành phần vốn và biết được kết cấu VLĐ theo hình thái biểu hiện để định hướng điều chỉnh hợp lý có hiệu quả. Dựa theo vai trò của VLĐ đối với quá trình SXKD, VLĐ của doanh nghiệp được chia thành các loại chủ yếu sau: Sinh viên: Hồ Phương Linh 7 Lớp: CQ54/11.06 Học viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp + VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất gồm: Vốn nguyên, vật liệu chính, vốn vật liệu phụ, vốn nhiên liệu, vốn phụ tùng thay thế, vốn vật đóng gói, vốn công cụ dụng cụ nhỏ dự trữ sản xuất.
+ VLĐ trong khâu trực tiếp sản xuất gồm: Vốn bán thành phẩm, SPDD, vốn về chi phí trả trước. + VLĐ trong khâu lưu thông gồm: Vốn thành phẩm, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, các khoản vốn đầu tư ngắn hạn. Kết luận: Phương pháp này cho biết được kết cấu VLĐ theo vai trò, từ đó giúp cho việc đánh giá tình hình phân bổ VLĐ trong các khâu của quá trình luân chuyển vốn, thấy được vai trò của từng thành phần vốn đối với quá trình kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp tổ chức quản lý thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu VLĐ hợp lý, tăng được tốc độ luân chuyển VLĐ.
Nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp Căn cứ vào thời gian huy động vốn và sử dụng vốn có thể chia thành nguồn vốn lưu động tạm thời và nguồn vốn lưu động thường xuyên. + Nguồn VLĐ tạm thời: Nguồn này có tính chất ngắn hạn đáp ứng nhu cầu vốn có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động kinh doanh của DN như: giá cả vật tư hàng hoá trên thị trường tăng lên bất ngờ mà DN không dự kiến được, khi DN đột xuất nhận thêm đơn đặt hàng mới, hay DN SXKD những mặt hàng có tính chất thời vụ… Nguồn tài trợ cho nhu cầu VLĐ tạm thời này gồm có: Các khoản vay ngắn hạn, khoản nợ ngắn hạn, nợ phải trả cho người bán, các khoản phải nộp Ngân sách Nhà nước, phải trả phải nộp khác nhưng chưa trả, chưa nộp, các khoản chiếm dụng ngắn hạn khác + Nguồn vốn lưu động thường xuyên: Là những nguồn vốn có tính chất ổn định và dài hạn để hình thành nên tài sản lưu động thường xuyên cần thiết. Nguồn VLĐ thường xuyên tại một thời điểm được xác định như sau: Sinh viên: Hồ Phương Linh 8 Lớp: CQ54/11.06 Học viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp Nguồn VLĐ Tổng nguồn vốn = - Tài sản dài hạn thường xuyên thường xuyên của DN Trong đó: Nguồn vốn thường xuyên của DN = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn Hoặc: Nguồn VLĐ thường xuyên = Tài sản ngắn hạn - Nợ ngắn hạn Có 3 trường hợp có thể xảy ra: Trường hợp 1: NWC >0 Khi tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ phải trả ngắn hạn, nghĩa là nguồn vốn lưu động thường xuyên có giá trị dương. Khi đó sẽ có một sự ổn định trong hoạt đông kinh doanh của DN vì có một bộ phận nguồn VLĐ thường xuyên tài trợ cho tài sản lưu động để sử dụng cho hoạt động kinh doanh.
Trường hợp 2: NWC <0 Tài sản lưu động nhỏ hơn nợ phải trả ngắn hạn, đây là dấu hiệu đáng ngại cho DN khi hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hay xây dựng. Đây là dấu hiệu cho thấy DN sử dụng vốn sai, cán cân thanh toán chắc chắn mất thăng bằng, hệ số thanh toán ngắn hạn <0. Trường hợp 3: NWC = 0 Tài sản lưu động bằng nợ phải trả ngắn hạn hay nguồn vốn thường xuyên bằng giá trị tài sản cố định. Trường hợp này không tạo được tính ổn định trong hoạt động SXKD của DN.
Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp 1. Khái niệm và mục tiêu quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp 1. Khái niêm quản trị vốn lưu động Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp là việc hoạch định tổ chức thực hiện, kiểm soát và điều chỉnh quá trình tạo lập và sử dụng vốn lưu động Sinh viên: Hồ Phương Linh 9 Lớp: CQ54/11.06 Học viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp phục vụ cho các hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.