Tổng quan nghiên cứu

Trong cơ cấu tài chính của các doanh nghiệp thuộc ngành xây lắp kỹ thuật và hạ tầng đô thị tại Việt Nam, tài sản ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng áp đảo, dao động từ 75% đến hơn 85% tổng giá trị tài sản. Sự vận động không ngừng của các dòng vốn lưu động đóng vai trò là mạch máu duy trì tính liên tục của quá trình thi công, từ khâu chuẩn bị vật tư, san lấp mặt bằng cho đến giai đoạn bàn giao hoàn thiện công trình. Tuy nhiên, các biến động kinh tế vĩ mô cùng sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường xây dựng đã khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn nghiêm trọng trong việc cân đối dòng tiền, gia tăng áp lực nợ ngắn hạn và đối mặt với nguy cơ suy giảm tính thanh khoản.

Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Làm thế nào để thiết lập một cơ chế quản trị vốn lưu động khoa học, vừa đảm bảo thanh khoản an toàn, vừa tối ưu hóa hiệu suất sử dụng vốn trong điều kiện đặc thù của ngành xây lắp kỹ thuật dân dụng và thủy điện? Mục tiêu trọng tâm của đề tài là hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản trị tài chính ngắn hạn, phân tích thực trạng quản trị vốn lưu động tại Công ty Cổ phần Sông Đà 2 trong giai đoạn 3 năm liên tiếp từ năm 2017 đến năm 2019, từ đó hoạch định hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể tại Công ty Cổ phần Sông Đà 2 (trụ sở chính tại Km 10, Đường Nguyễn Trãi, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội) với quy mô vốn điều lệ đạt 144,235 tỷ đồng. Khoảng thời gian khảo sát từ năm 2017 đến hết ngày 31/12/2019 phản ánh trọn vẹn chu kỳ vận động vốn trước các biến động lớn của thị trường xây dựng. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp các chỉ số định lượng giúp doanh nghiệp duy trì nguồn vốn lưu động thường xuyên (NWC) dương trên 100.000 triệu đồng, kiểm soát nợ phải thu, cắt giảm chi phí tồn kho và gia tăng tỷ suất sinh lời trên vốn kinh doanh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa các nền tảng lý thuyết tài chính doanh nghiệp kinh điển và đặc thù ngành xây lắp cơ bản:

Thứ nhất, Lý thuyết chu chuyển vốn lưu động (Working Capital Cycle) và Vòng quay tiền mặt (Cash Conversion Cycle). Vốn lưu động trong doanh nghiệp sản xuất - xây lắp vận động qua mô hình chu chuyển ba giai đoạn nối tiếp nhau: Giai đoạn dự trữ (T – H), giai đoạn trực tiếp sản xuất thi công (H – SX – H') và giai đoạn lưu thông tiêu thụ (H' – T'). Khác với thương mại thuần túy, chu kỳ vốn xây lắp có thời gian thi công kéo dài, giá trị sản phẩm dở dang lớn và độ trễ nghiệm thu cao.

Thứ hai, Lý thuyết đánh đổi giữa khả năng sinh lời và mức độ rủi ro thanh khoản (Risk-Return Tradeoff Theory). Doanh nghiệp phải cân nhắc giữa hai chiến lược tài trợ: Chiến lược thận trọng duy trì tỷ trọng vốn lưu động thường xuyên cao để giảm thiểu rủi ro vỡ nợ nhưng chấp nhận chi phí sử dụng vốn lớn; hoặc chiến lược mạo hiểm sử dụng nợ ngắn hạn để tài trợ tài sản dài hạn nhằm tối đa hóa tỷ suất sinh lời nhưng đối mặt rủi ro thanh khoản gay gắt.

Thứ ba, Các mô hình định lượng quản trị thành phần vốn lưu động: Mô hình đặt hàng kinh tế EOQ (Economic Order Quantity) ứng dụng trong việc tối ưu hóa chi phí đặt hàng và lưu kho nguyên vật liệu chính như sắt thép, xi măng; Mô hình quản trị tiền mặt Miller-Orr xác định giới hạn trên, giới hạn dưới và mức tiền mặt mục tiêu tối ưu nhằm hạn chế chi phí cơ hội của tiền nhàn rỗi.

Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: Vốn lưu động ròng (Net Working Capital - NWC được tính bằng chênh lệch giữa Tài sản ngắn hạn và Nợ ngắn hạn), Kỳ thu tiền trung bình (Days Sales Outstanding - DSO), Vòng quay hàng tồn kho (Inventory Turnover) và Tỷ suất sinh lời của vốn lưu động. Khung lý thuyết này bám sát quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 và Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS).

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu thứ cấp phục vụ nghiên cứu được trích xuất từ hệ thống Báo cáo tài chính đã kiểm toán độc lập của Công ty Cổ phần Sông Đà 2 trong 3 năm tài chính (2017, 2018 và 2019), bao gồm 12 báo cáo quý, 3 Bảng cân đối kế toán, 3 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ liên quan. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn chuyên sâu 5 cán bộ quản lý chủ chốt thuộc Phòng Tài chính - Kế toán, Phòng Kinh tế - Kế hoạch và Phòng Quản lý vật tư - Cơ giới.

Về quy mô mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu chủ đích (Purposive Sampling) đối với toàn bộ dữ liệu tài chính của Sông Đà 2 trong chu kỳ 36 tháng liên tục, đồng thời đối chuẩn với dữ liệu trung bình ngành xây dựng dân dụng - công nghiệp từ 3 doanh nghiệp xây lắp có quy mô tương đương trên sàn giao dịch chứng khoán. Việc lựa chọn phương pháp này xuất phát từ yêu cầu phân tích dọc chuyên sâu về một điển hình doanh nghiệp hạ tầng kỹ thuật nhằm phát hiện các quy luật vận động mang tính bản chất.

Các phương pháp phân tích tài chính chuyên sâu được ứng dụng bao gồm:

  • Phương pháp so sánh tuyệt đối và tương đối nhằm đánh giá tốc độ tăng trưởng và sự dịch chuyển cơ cấu tài sản qua các năm.
  • Phương pháp phân tích tỷ số tài chính (Ratio Analysis) tập trung vào 4 nhóm chỉ tiêu: Nhóm chỉ tiêu bảo đảm nguồn vốn (NWC), nhóm chỉ tiêu cơ cấu vốn lưu động, nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán (thanh toán hiện thời, thanh toán nhanh, thanh toán tức thời, thanh toán lãi vay) và nhóm chỉ tiêu hiệu suất luân chuyển (số vòng quay, kỳ luân chuyển, hàm lượng vốn lưu động).
  • Phương pháp liên hệ cân đối kế toán để xác định chính xác mối quan hệ giữa các nguồn tài trợ dài hạn và tài sản lưu động thường xuyên.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực chứng bức tranh tài chính tại Công ty Cổ phần Sông Đà 2 trong giai đoạn 2017 - 2019 ghi nhận các phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, Sự thu hẹp quy mô tổng tài sản gắn liền với sự sụt giảm mạnh của tài sản ngắn hạn. Tính đến ngày 31/12/2019, tổng tài sản của công ty đạt 406.075,8 triệu đồng, ghi nhận mức giảm 16,1% (tương ứng giảm 78.123,3 triệu đồng) so với thời điểm 31/12/2018 (đạt 484.199,1 triệu đồng). Trong đó, tài sản ngắn hạn giảm 17,2%, từ mức 400.677,9 triệu đồng xuống 331.766,0 triệu đồng. Dù giảm về giá trị tuyệt đối, tài sản ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng chi phối tuyệt đối là 81,7% trong tổng cơ cấu tài sản, phản ánh chuẩn xác tính chất hoạt động của một doanh nghiệp xây lắp hạ tầng công trình.

Thứ hai, Tái cơ cấu nguồn vốn theo hướng giảm đòn bẩy tài chính và tăng cường mức độ tự chủ. Tổng nợ phải trả cuối năm 2019 giảm mạnh 16,1% (tương ứng giảm 71.582,4 triệu đồng), chỉ còn 219.534,8 triệu đồng. Sự sụt giảm này chủ yếu đến từ việc tất toán các khoản nợ ngắn hạn và nợ vay ngân hàng đến hạn. Trong khi đó, vốn chủ sở hữu đạt 186.541,0 triệu đồng, chiếm 45,9% tổng nguồn vốn và chỉ giảm nhẹ 3,4% (tương ứng 6.541,0 triệu đồng) do công ty thực hiện chi trả cổ tức và phân phối lợi nhuận các kỳ trước cho cổ đông.

Thứ ba, Nguồn vốn lưu động thường xuyên (NWC) luôn duy trì ở mức an toàn cao nhưng hiệu suất sử dụng vốn còn nhiều hạn chế. Chỉ số NWC tại ngày 31/12/2019 đạt trên 112.000 triệu đồng (giá trị dương lớn), chứng tỏ toàn bộ tài sản dài hạn (74.309,8 triệu đồng, chiếm 18,3% tổng tài sản) và một phần lớn tài sản ngắn hạn được tài trợ vững chắc bằng nguồn vốn thường xuyên dài hạn. Doanh thu thuần năm 2019 đạt trên 170.000 triệu đồng, mang lại lợi nhuận gộp trên 39.000 triệu đồng; tuy nhiên kỳ thu tiền trung bình và vòng quay hàng tồn kho còn chậm do giá trị chi phí sản xuất kinh doanh dở dang tại các công trình lớn chưa được nghiệm thu dứt điểm.

Thảo luận kết quả

Diễn biến tài chính phản ánh rõ nét nỗ lực của ban điều hành Sông Đà 2 trong việc tái cấu trúc dòng vốn, chủ động cắt giảm các khoản nợ vay rủi ro để bảo vệ an toàn thanh khoản trước bối cảnh thị trường bất động sản và xây dựng có dấu hiệu chững lại. Việc nợ phải trả giảm 16,1% song hành cùng sự sụt giảm 17,2% của tài sản ngắn hạn cho thấy công ty đã sử dụng dòng tiền thu hồi từ các công trình để hoàn trả nợ gốc, hạn chế phát sinh chi phí lãi vay trong chi phí tài chính.

Khi biểu diễn trực quan trên hệ thống dữ liệu, sự chuyển dịch này được thể hiện rõ ràng qua Biểu đồ 2.1 (Biến động tài sản) với xu hướng đi xuống của cột tài sản ngắn hạn, kết hợp cùng Biểu đồ 2.2 (Biến động nguồn vốn) phản ánh đường nợ phải trả giảm dốc hơn đường vốn chủ sở hữu. Bảng phân tích chi tiết khả năng thanh toán (Bảng 2.8) và Bảng phân tích tốc độ luân chuyển hàng tồn kho (Bảng 2.10) cho thấy hệ số thanh toán hiện thời luôn duy trì trên 1,5 lần, khẳng định doanh nghiệp không gặp rủi ro phá sản trong ngắn hạn.

Tuy nhiên, việc duy trì hệ số an toàn vốn quá cao cũng mang lại tính hai mặt. Khi so sánh với mức trung bình ngành xây dựng (vốn chủ sở hữu thường chỉ chiếm từ 25% đến 35% tổng nguồn vốn), tỷ lệ tự chủ 45,9% của Sông Đà 2 là rất cao. Mặt trái của hiện tượng này là tốc độ luân chuyển vốn lưu động bị kéo dài, hàm lượng vốn lưu động trên một đồng doanh thu thuần còn lớn. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ cơ chế nghiệm thu thanh toán trong ngành xây dựng phụ thuộc chặt chẽ vào tiến độ giải ngân của chủ đầu tư, khiến các khoản phải thu khách hàng và sản phẩm dở dang chiếm dụng một lượng vốn bằng tiền đáng kể.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm tăng cường công tác quản trị vốn lưu động tại Công ty Cổ phần Sông Đà 2:

Thứ nhất, Hoàn thiện phương pháp lập kế hoạch và xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động. Doanh nghiệp cần kết hợp đồng thời phương pháp gián tiếp dựa trên tỷ lệ phần trăm doanh thu kế hoạch với phương pháp trực tiếp bóc tách theo từng gói thầu dự án. Đích đến là kiểm soát độ lệch giữa dòng tiền dự toán và dòng tiền thực tế ở mức dưới 5% mỗi quý. Thời gian triển khai ngay trong Quý 1 năm 2021, do Phòng Kinh tế - Kế hoạch phối hợp cùng Phòng Tài chính - Kế toán chủ trì thực hiện.

Thứ hai, Tái cấu trúc chính sách tín dụng thương mại và đẩy mạnh công tác thu hồi nợ phải thu. Doanh nghiệp cần thành lập tổ chuyên trách xử lý công nợ trực thuộc Tổng Giám đốc, xây dựng bảng xếp hạng tín nhiệm khách hàng trước khi ký kết hợp đồng thi công. Áp dụng chính sách chiết khấu thanh toán linh hoạt từ 1,5% đến 2,0% đối với các chủ đầu tư thanh toán trước hạn 15 ngày. Mục tiêu cụ thể là rút ngắn kỳ thu tiền trung bình từ 25 đến 30 ngày trong vòng 12 tháng tới.

Thứ ba, Tối ưu hóa định mức dự trữ hàng tồn kho và quản trị chi phí xây lắp dở dang. Phòng Quản lý vật tư - Cơ giới cần áp dụng mô hình định lượng EOQ để xác định lượng đặt hàng nguyên vật liệu chính tối ưu, đàm phán hợp đồng cung ứng dài hạn để nhận mức giá ưu đãi và hoãn thời gian thanh toán. Thực hiện kiểm kê định kỳ 6 tháng một lần để thanh lý dứt điểm các vật tư cơ giới tồn đọng, phấn đấu nâng tốc độ vòng quay hàng tồn kho thêm 15% vào cuối năm 2021.

Thứ tư, Ứng dụng mô hình Miller-Orr trong quản trị vốn bằng tiền và cơ cấu lại các khoản tài trợ ngắn hạn. Xác định lượng tiền mặt tồn quỹ và tiền gửi thanh toán ngân hàng mục tiêu trong khoảng từ 15.000 đến 20.000 triệu đồng nhằm đáp ứng nhu cầu chi trả khẩn cấp nhưng không để tiền mặt chịu lãi suất thấp. Đồng thời, chủ động thương thảo mở rộng hạn mức tín dụng thư tín dụng (L/C) và bảo lãnh ngân hàng với chi phí thấp nhằm thay thế việc vay nợ thương mại ngắn hạn lãi suất cao.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống giải pháp của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Nhóm thứ nhất, Ban Giám đốc, Giám đốc Tài chính (CFO) và Trưởng phòng Kế toán tại các doanh nghiệp xây lắp, hạ tầng kỹ thuật và thủy điện: Luận văn cung cấp khung tham chiếu hoàn chỉnh về phương pháp đánh giá sức khỏe tài chính ngắn hạn, kỹ thuật cân đối nguồn vốn lưu động thường xuyên (NWC) và cẩm nang xử lý điểm nghẽn công nợ thi công.

Nhóm thứ hai, Chuyên viên phân tích tài chính doanh nghiệp và cán bộ thẩm định tín dụng tại các ngân hàng thương mại: Công trình cung cấp bộ tiêu chí chi tiết về đặc thù luân chuyển vốn, rủi ro ứ đọng chi phí dở dang và các hệ số thanh toán thực tế của doanh nghiệp xây dựng, hỗ trợ quá trình ra quyết định cấp tín dụng chính xác.

Nhóm thứ three, Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kế toán và Quản trị kinh doanh: Tài liệu đóng vai trò là một case study thực chứng điển hình, kết nối nhuần nhuyễn giữa hệ thống lý thuyết tài chính doanh nghiệp chuẩn mực với số liệu kế toán thực tế tại một doanh nghiệp cổ phần quy mô lớn.

Nhóm thứ tư, Kiểm toán viên độc lập và kiểm soát viên nội bộ: Tài liệu hỗ trợ phương pháp luận trong việc nhận diện các sai lệch cơ cấu tài sản, đánh giá trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho và nợ phải thu khó đòi trong các dự án công trình dài hạn.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nguồn vốn lưu động thường xuyên (NWC) dương lại có ý nghĩa quyết định đối với sự an toàn tài chính của doanh nghiệp xây lắp như Sông Đà 2?

Chỉ số NWC dương trên 112.000 triệu đồng chứng minh doanh nghiệp đã sử dụng nguồn vốn dài hạn ổn định để tài trợ cho một bộ phận tài sản ngắn hạn. Điều này tạo ra một tấm đệm an toàn vững chắc, giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động thi công liên tục mà không bị đe dọa vỡ nợ khi các khoản thanh toán từ chủ đầu tư bị chậm trễ.

Mô hình quản lý tiền mặt Miller-Orr hỗ trợ tối ưu hóa vốn bằng tiền tại doanh nghiệp như thế nào?

Mô hình Miller-Orr giúp thiết lập ngưỡng tiền mặt tối thiểu (khoảng 15.000 triệu đồng) để đáp ứng chi trả tức thời và ngưỡng tối đa (khoảng 20.000 triệu đồng). Khi lượng tiền vượt ngưỡng trên, phần dư thừa sẽ được điều chuyển sang các khoản tiền gửi kỳ hạn ngắn hoặc đầu tư sinh lời, loại bỏ tình trạng tiền nằm nhàn rỗi làm giảm hiệu suất vốn.

Đâu là nguyên nhân chính khiến kỳ thu tiền trung bình của các doanh nghiệp xây dựng công trình thường kéo dài?

Nguyên nhân cốt lõi xuất phát từ quy trình nghiệm thu phức tạp gồm nhiều giai đoạn: Nghiệm thu kỹ thuật, kiểm toán khối lượng và phê duyệt giải ngân từ nhiều cấp quản lý. Thêm vào đó, điều khoản giữ lại từ 5% đến 10% giá trị công trình để bảo hành trong 12 đến 24 tháng cũng trực tiếp kéo dài thời gian thu hồi nợ.

Doanh nghiệp xây dựng nên áp dụng phương pháp nào để xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động cho từng dự án?

Phương pháp trực tiếp là lựa chọn tối ưu nhất cho từng gói thầu cụ thể. Doanh nghiệp cần lập dự toán chi tiết chi phí nguyên vật liệu, nhân công, máy thi công theo tiến độ thực tế, trừ đi phần tín dụng thương mại từ nhà cung cấp vật tư và tiền tạm ứng của chủ đầu tư để xác định mức vốn tự có cần huy động.

Làm thế nào để doanh nghiệp cân bằng hài hòa giữa mục tiêu sinh lời và mục tiêu an toàn thanh khoản trong quản trị vốn lưu động?

Nhà quản trị cần áp dụng chính sách tài trợ thận trọng vừa phải, duy trì hệ số thanh toán hiện thời trong khoảng từ 1,3 đến 1,8 lần. Doanh nghiệp không nên nắm giữ quá nhiều tiền mặt mà cần tận dụng hạn mức thấu chi linh hoạt tại ngân hàng, kết hợp siết chặt quản lý hàng tồn kho để giải phóng vốn đầu tư vào các dự án có tỷ suất sinh lời cao.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về quản trị vốn lưu động, khẳng định tầm quan trọng sống còn của việc cân đối cơ cấu tài trợ ngắn hạn trong các doanh nghiệp xây dựng cơ bản.
  • Phân tích chi tiết thực trạng tài chính giai đoạn 2017 - 2019 của Công ty Cổ phần Sông Đà 2 với tổng tài sản đạt 406.075,8 triệu đồng và tỷ lệ tự chủ tài chính vững vàng ở mức 45,9%.
  • Chỉ rõ những tồn tại then chốt trong công tác luân chuyển tài sản ngắn hạn, đặc biệt là tình trạng vốn bị chiếm dụng trong các khoản nợ phải thu và giá trị chi phí xây lắp dở dang kéo dài.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp tài chính khả thi gắn liền với lộ trình triển khai rõ ràng, tập trung vào ứng dụng mô hình định lượng EOQ, Miller-Orr và chính sách chiết khấu công nợ.
  • Đóng góp nguồn tài liệu tham khảo thực chứng giá trị cho giới học thuật và các nhà quản trị tài chính trong nỗ lực tối ưu hóa dòng tiền và năng lực cạnh tranh.

Lộ trình triển khai hệ thống giải pháp được khuyến nghị thực hiện đồng bộ trong khoảng thời gian từ 12 đến 18 tháng tiếp theo nhằm đạt được các mục tiêu tài chính đề ra. Các nhà quản trị, chuyên viên tài chính và quý bạn đọc quan tâm có thể trực tiếp nghiên cứu toàn văn luận văn để áp dụng hiệu quả vào mô hình thực tiễn của đơn vị mình.