CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG 1. KHÁI NIỆM VỀ KHÁCH HÀNG VÀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG 1. Khái niệm về khách hàng Khách hàng là người mua sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp, là người trả lương cho công nhân và quyết định sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp. Khách hàng có mặt ở mọi nơi và bất kỳ ai cũng có thể trở thành khách hàng của doanh nghiệp, không phân biệt giới tính, tuổi tác, địa vị, văn hoá, tôn giáo.
"Khách hàng là tài sản lớn nhất của mỗi Công ty, bởi vì Công ty sẽ không thể tồn tại nếu không có khách hàng" - Erwin Frand. Khách hàng là người quyết định cuối cùng cho chất lượng của sản phẩm. Bởi vì một sản phẩm tuyệt hảo không phải là sản phẩm có chất lượng tốt nhất mà là sản phẩm đáp ứng đúng nhu cầu của khách hàng. Doanh nghiệp muốn thành công trên thị trường thì mọi hoạt động đều phải xuất phát từ khách hàng, hướng về khách hàng, và đáp ứng tốt nhất nhu cầu của họ.
Phân loại khách hàng Dựa vào hành vi mua hàng của khách hàng để phân loại khách hàng thì khách hàng được phân thành hai loại đó là khách hàng cá nhân và khách hàng tổ chức. - Khách hàng cá nhân: là những người mua nhỏ lẻ, số lượng mua mỗi lần mỗi ít nhưng quy mô của khách hàng lớn, quyết định mua của họ thường ít phức tạp. Việc mua sắm của khách hàng cá nhân chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố văn hóa, xã hội, cá nhân và tâm lý. - Khách hàng tổ chức: là những người mua lớn, số lượng mua mỗi lần nhiều, họ đưa ra quyết định mua có tính chất phức tạp và tốn nhiều thời gian.
Luan van 7 Những vụ mua sắm thường liên quan đến lượng tiền khá lớn, các cân nhắc phức tạp vềmặt kinh tế kỹ thuật, và các ảnh hưởng qua lại giữa nhiều người thuộc nhiều cấp độ trong tổ chức. Tiến trình mua của tổ chức có khuynh hướng đúng quy cách hơn so với khách hàng mua cá nhân. Các cuộc mua của tổ chức thường yêu cầu những chi tiết của sản phẩm, thảo luận các yêu cầu về mua hàng, các nghiên cứu kỹ lưỡng về nhà cung cấp và sự phê chuẩn chính thức. Ngoài ra còn có thể phân loại khách hàng bên trong và bên ngoài.
- Khách hàng bên ngoài: là người mua hay sử dụng cuối cùng sản phẩm dịch vụ của công ty mà không phải nhân viên trong tổ chức. Đây là đối tượng khách hàng mà doanh nghiệp có giao dịch, kể cả gặp gỡ trực tiếp hay qua điện thoại, email. Họ là những khách hàng theo quan niệm truyền thống. - Khách hàng bên trong: hay khách hàng nội bộ là người mua sản phẩm dịch vụ và họ là thành viên đang làm việc tại doanh nghiệp.
Không phải là khách hàng truyền thống nhưng cũng cần quan tâm chăm sóc đối xử như khách hàng bên ngoài. Giá trị khách hàng Giá trị từ khách hàng (Lifetime Value - LTV, hay Customer Lifetime Value - CLV) là những giá trị mà tổ chức nhận lại từ khách hàng khi khách hàng đã được tổ chức thoả mãn. Trước hết phải kể đến giá trị về mặt kinh tế, là khả năng sinh lời của khách hàng, nó phụ thuộc rất nhiều vào sức mua và sự gắn bó của khách hàng. Để đánh giá sự gắn bó và khả năng sinh lợi thật sự của khách hàng, tổ chức có thể sử dụng 4 yếu tố cơ - Chi phí thu hút: những khoản chi phí dùng để thu hút khách hàng, bao gồm chi phí marketing như chi phí quảng cáo, cổ động và chi phí bán hàng.
Luan van 8 - Lợi nhuận: tổng lợi nhuận khách hàng tạo ra cho tổ chức thông qua việc mua sản phẩm và dịch vụ. - Chi phí: Những chi phí để cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng. - Độ dài của các mối quan hệ: khoảng thời gian khách hàng gắn bó với tổ chức. Giá trị về mặt kinh tế của mỗi khách hàng không chỉ là đem lại cho tổ chức nhiều lợi nhuận hơn mà họ còn có thể giúp tổ chức tiết kiệm chi phí do hiệu quả của việc cắt giảm chi phí quảng cáo và chi phí giao dịch.
Cùng với những giá trị về mặt kinh tế, những khách hàng trung thành cũng chính là phương tiện truyền thông tốt nhất của công ty, những nhận xét tốt của khách hàng với mọi người sẽ giúp nâng cao uy tín và hình ảnh của tổ chức. Giá trị sản phẩm Giá trị dịch vụ Tổng giá trị của khách hàng Giá trị về nhân sự Giá trị về hình ảnh Giá trị cung cấp cho khách hàng Giá mua Chi phí thời gian Tổng chi phí của khách hàng Chi phí công sức Chi phí tinh thần Hình 1.1 Xác định giá trị được phân phối cho khách hàng Luan van 9 1.2 CÁC KHÁI NIỆM VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG (CRM) 1. Lịch sử và các khái niệm CRM cho đến nay a. Lịch sử CRM CRM được mô tả như một định hướng mang tính chiến lược nhằm phát triển chiến lược Marketing quan hệ - chú trọng vào thấu hiểu được nhu cầu của khách hàng (Dorf 1999).
Fahey (1999) định nghĩa CRM như một tiến trình cốt lõi của doanh nghiệp liên quan đến các khía cạnh như: Xác định khách hàng, nâng cao hiểu biết về khách hàng, xây dựng mối quan hệ và hình thành nhận thức của Khách hàng về tổ chức và sản phẩm. Dorf (1999) đồng ý rằng thuật ngữ "Quản trị quan hệ khách hàng", "Marketing một-một" và "Marketing quan hệ" có chung một nghĩa, vì vậy có thể được sử dụng thay thế nhau. Davids(1999) chỉ ra rằng ngoài thuật ngữ "marketing quan hệ" và "marketing một-một", còn thuật ngữ là "Marketing Giá trị vòng đời" và " Marketing lòng trung thành" cũng có nghĩa tương đồng giống "Quản trị quan hệ khách hàng". Ban đầu, CRM được viết tắt cho từ "Customer Relationship Marketing" tức là Marketing Quan hệ khách hàng, tuy nhiên, vào năm 1998, thuật ngữ này được đổi tên thành" Quản trị quan hệ khách hàng" (Nairn 2002).
Từ năm 2000 trở đi, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng số lượng các bài viết về CRM đã tăng đột biến. Mặc dầu Quản trị quan hệ khách hàng là một chiến lược quản lý chỉ mới được phổ biến vào cuối những năm 1990, nhưng gốc rễ của lý thuyết này đã xuất hiện vào giữa những năm 1950, khi mà những khái niệm marketing về phân khúc thị trường được nghiên cứu. Phân khúc thị trường được dựa trên sự hiểu biết về những nhu cầu khác nhau của các nhóm riêng biệt. Những hiểu biết này mang tới một sản phẩm phù hợp và các chính sách marketing hiệu quả, điều này tương tự như triết lí của CRM (Smith 1995).
Luan van 10 Hàng loạt công nghệ và công cụ được ứng dụng để thực hiện được CRM, những công nghệ này cho phép tất cả thành viên trong tổ chức có thể tập trung dữ liệu, chia sẻ thông tin khách hàng với các nhóm nhân viên khác nhau (Lee 2000). Những năm 1990 chứng kiến sự phát triển của marketing Viễn thông, dịch vụ khách hàng trực tuyến và các công cụ hỗ trợ, phần mềm bán hàng tự động, các kho lưu trữ dữ liệu và Internet. Thêm vào đó, khả năng của máy ví tính ngày càng hỗ trợ công việc hiệu quả hơn, trong khi giá thiết bị vi tính lại giảm đáng kể theo thời gian, điều này đã giúp các công ty tạo nên cuộc cách mạng công nghệ thông tin. Sự phát triển của CRM cho đến nay Những giải pháp về CRM bất đầu từ những năm 1980 và đầu năm 1990.
Những giải pháp đóng gói này nhấn mạnh đến sự tự động hóa và tiêu chuẩn hóa trong các quy trình nội bộ liên quan đến quy trình mua hàng, chăm sóc khách hàng và giữ chân khách hàng. Sau đó vào giữa những năm 90, WEB ra đời. WEB đã thay đổi thị trường CRM và những yêu cầu liên quan đến khách hàng tại các doanh nghiệp. Chính vì vậy, hệ thống CRM đã phát triển để có thể tương tác và chăm sóc với cả khách hàng hiện tại và các khách hàng tiềm năng khác.
Những sản phẩm CRM trước đây dường như phản ứng quá chậm với Internet, chính điều này đã mở ra nhiều cơ hội cho các công ty mới mở, và kết quả là một thị trường eCRM ra đời. Thị trường CRM đã phát triển rất nhanh chóng, và từ ngữ để miêu tả tính chất của thị trường này đó là "lợi nhuận". Rất nhiều cơ hội được tạo ra cho các tổ chức tư vấn khi mà nhu cầu về CRM trên nền tảng web bùng nổ. Nhu cầu của khách hàng và những đòi hỏi của doanh nghiệp dường như vượt xa so với năng lực hiện có của các công ty cung cấp giải pháp CRM.
Điều này đã dấn đến những dịch vụ trọn gói tốt hơn. Vào năm 1999, SAP cho ra đời phần mềm CRM với ứng dụng trên Luan van 11 Website. Ứng dụng này đưa ra được giá cả của SAP trên Internet, những điều chỉnh phù hợp với yêu cầu khách hàng, vì vậy mà khách hàng, nhà phân phối và nhân viên kinh doanh có thể tính toán giá cả phù hợp và tư vấn với sản phẩm và dịch vụ phù hợp. Với sự tích hợp Internet vào CRM, chức năng này CRM đã được thay đổi khá nhiều.
Bằng việc sử dụng Web, CRM trở nên dễ dàng tương tác hơn. Khách hàng thậm chí có thể tự động giao dịch với công ty. Các sản phẩm mới về tương tác với khách hàng có thể được triển khai một cách nhanh hơn. Bên cạnh đó, các khách hàng được phục vụ có thể là khách hàng toàn cầu.
Và từ đó thịnh hành một thuật ngữ là e-CRM tức là Quản trị quan hệ khách hàng điện tử. Vào năm 2001, mặc dù số lượng công ty ứng dụng e-CRM thấp, nhưng tỉ lệ thành công lại khá cao bởi vì tính linh hoạt và phức tạp của nó. Thuật ngữ CRM được thay đổi và rất đa dạng từ những thập niên 90 của thế kỉ 20 - khi khái niệm của marketing đã thay đổi từ marketing hướng đến giao dịch thành marketing hướng đến mối quan hệ (Dohnal,2002), hoặc còn chuyển CRM thành Quản trị marketing quan hệ. Theo Lehtinen, CRM bắt nguồn từ một phần của việc phát triển marketing, marketing trở nên cá nhân hóa hơn cho đến khi nó chuyển đổi thành marketing khách hàng, được biết như là Marketing một-một, hướng tới khách hàng cá nhân.
Vì vậy, ứng dụng CRM đòi hỏi công ty phải thay đổi quan niệm của họ về marketing.