CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG 1. TỔNG QUAN QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG 1. Khách hàng Theo quan niệm cổ điển: KH là người mua sắm sản phẩm mà sự quan tâm này có thể dẫn đến hành động mua. KH có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự sống còn, duy trì và phát triển đối với DN.
“Khách hàng là tài sản quý giá nhất của một DN, nếu không có KH thì DN sẽ không tồn tại” – Michael Leboeuf [6] Theo quan điểm tác giả, KH là tập hợp các cá nhân, nhóm người, tổ chức dưới nhiều tên gọi khác nhau như cá nhân, hộ gia đình, DN, tổ chức phi DN, … có nhu cầu sử dụng và thỏa mãn sản phẩm dịch vụ bởi nhà cung cấp. Phân loại khách hàng Việc phân loại KH hợp lý có ý nghĩa trong việc xây dựng chính sách tương tác KH trong hệ thống CRM. Phân loại KH để có định hướng kinh doanh chính xác và hiệu quả từ việc giảm thiểu chào hàng cho những KH thực sự không có nhu cầu mua sản phẩm, cũng như thực hiện chăm sóc KH hiệu quả. Từ việc lựa chọn KH mục tiêu, phân khúc thị trường làm cơ sở xây dựng kế hoạch kinh doanh phát triển sản phẩm, DN xác định các phương thức bán hàng, kênh phân phối và các công cụ bán hàng.
Hay nói cách khác, phân loại KH hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác tương tác KH. - Dựa vào hành vi mua của KH để phân loại thì KH được phân thành hai loại đó là KH tổ chức và KH cá nhân. Khách hàng tổ chức: Người mua ở thị trường tổ chức có tính chuyên nghiệp hơn so với người tiêu dùng, quyết định mua của họ liên quan đến Luan van 7 nhiều bên tham gia hơn. Quyết định mua hàng thường phức tạp, quá trình quyết định lâu hơn.
Ngoài ra còn một số đặc điểm khác của khách hàng tổ chức, như xu hướng mua trực tiếp từ người sản xuất hơn là qua trung gian; xu hướng thuê mướn thay vì mua ngày càng tăng. Webster và Wind định nghĩa việc mua của tổ chức như một “tiến trình quyết định theo đó các tổ chức chính thức hình thành nhu cầu đối với những sản phẩm và dịch vụ được mua và định dạng, đánh giá, lựa chọn trong số các nhãn hiệu sản phẩm và các nhà cung cấp khác nhau”.1 Khách hàng cá nhân: Quyết định mua của KH cá nhân thường ít phức tạp hơn KH tổ chức. Việc mua sắm của người tiêu dùng chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố văn hóa, xã hội, cá nhân và tâm lý. - Ngoài các phân loại trên còn nhiều cách phân loại KH khác theo Phụ lục 1.
Quan hệ khách hàng Quan hệ KH là quá trình tương tác hai chiều giữa DN và KH, trong đó các bên cùng trao đổi các nguồn lực lẫn nhau để cùng đạt mục tiêu của mình. Trong hoạt động ngân hàng, KH và ngân hàng tương tác với nhau thông qua KH sử dụng dịch vụ ngân hàng; chẳng hạn, KH gửi tiền vào ngân hàng để có được tiền lãi và ngân hàng sử dụng tiền gửi KH để cho vay với mức lãi suất cao hơn. Quan hệ KH, đứng góc độ tĩnh, đó là mối quan hệ giữa hai hay nhiều bên mà các bên đó thông tin về nhau sẽ thiết lập, đang hoặc đã từng giao dịch trao đổi các nguồn lực với nhau. Khi một KH nào đó đến vay vốn, ngân hàng thu thập thông tin như tên KH, địa chỉ, khả năng tài chính, mục đích sử dụng vốn vay, số tiền vay, ai là người đại diện để quyết định vay vốn,.
Đó là thông tin 1 Theo http://old.vn/module/kinh-te/thi-truong-to-chuc-va-hanh-vi-mua-cua- khach-hang-to-chuc.html Luan van 8 của mối quan hệ từ phía KH và ngược lại KH cũng có thông tin về ngân hàng như ai là người quyết định cho vay, số tiền sẽ được vay, khi nào được vay,… Mục tiêu kinh doanh cơ bản có thể không còn bị giới hạn trong việc thâu tóm hầu hết KH và đạt được thị phần lớn nhất về sản phẩm và dịch vụ mà hướng vào KH mục tiêu; đó là thiết lập, duy trì và nuôi dưỡng những quan hệ KH có giá trị sinh lời cao. Nói cách khác, DN phấn đấu để chiếm được KH, giữ KH đó trong thời gian dài, và phát triển giá trị của KH đối với DN. Các yếu tố của quan hệ khách hàng - Sự qua lại. Các bên tham gia và nhận thức được sự tồn tại của quan hệ đó.
Điều này có nghĩa là bản chất quan hệ vốn phải có tính hai chiều. - Sự tương tác giao dịch. Khi hai bên tương tác, họ trao đổi thông tin, cũng như trao đổi sản phẩm, dịch vụ. Mỗi tương tác lại tăng lượng thông tin trong quan hệ.
- Giao dịch lặp đi lặp lại. Giao dịch càng nhiều mức độ tín nhiệm càng gia tăng; qua đó, giúp các bên giao dịch ngày càng thuận tiện hơn do đơn giản hóa thủ tục và thời gian tìm hiểu nhu cầu. - Quan hệ tạo ra lợi ích liên tục cho cả hai bên. Sự thuận tiện của KH là một trong số những ích lợi nhưng không phải là lợi ích duy nhất.
Tham gia một quan hệ còn liên quan đến chi phí, thời gian, công sức và sẽ không ai cam kết quan hệ lâu dài nếu không có đủ lợi nhuận liên tục để bù đắp chi phí. - Sự duy nhất. Mỗi quan hệ khác nhau rất khác nhau. Quan hệ được thiết lập với cá nhân mà không phải là tập thể.
KH tổ chức thể hiện trong mối quan hệ thông qua cá nhân đại diện. Là nhân tố quyết định sự trung thành của KH đối với DN. Để quyết định sự thành công trong một mối quan hệ cần phải có một số yếu tố chủ yếu như vai trò của lòng tin, văn hóa doanh nghiệp, chất lượng dịch vụ, vai trò của nhân viên và quản lý những lời than phiền của KH. Luan van 9 Như vậy, một quan hệ KH gồm tất cả những gì mà KH và nhà cung cấp làm cùng nhau, cho phép cả hai cùng tạo ra giá trị cho mình.
Mối quan hệ như vậy là một quá trình tương tác mà qua đó các hành động, suy nghĩ và tình cảm trở thành một phần của quá trình tạo ra giá trị cho KH. Giá trị khách hàng b1- Giá trị dành cho khách hàng Theo Philip Kotle. “Giá trị dành cho khách hàng là sự chênh lệch giữa tổng giá trị khách hàng nhận được so với tổng chi phí của khách hàng. Tổng giá trị khách hàng là toàn bộ những lợi ích mà khách hàng trông đợi một sản phẩm hay dịch vụ nhất định”.
Giá trị dành cho khách hàng Tổng giá trị của Tổng chi phí khách hàng của khách hàng Giá Giá Giá Giá Giá Chi Chi Chi trị sản trị trị trị mua phí phí phí phẩm dịch hình nhân thời công tinh vụ ảnh sự gian sức thần Hình 1.1: Mô hình phân tích giá trị dành cho khách hàng Những giá trị mà DN có thể mang đến cho KH được chia làm 2 loại cơ bản là giá trị chức năng và giá trị tâm lý. - Giá trị chức năng: Là những tiện ích xuất phát từ chất lượng và những đặc tính được mong đợi của sản phẩm hay dịch vụ. Các giá trị chức năng sẽ được tạo ra thông qua các yếu tố giá, sự tiện dụng, tính sẵn có và công nghệ khi KH sử dụng sản phẩm dịch vụ. Những giá trị chức năng là cần thiết nhưng không thể tạo ra lợi thế cạnh tranh cho tổ chức bởi vì nó rất dễ bị sao chép.
Luan van 10 - Giá trị tâm lý: Những giá trị tâm lý thường khó sao chép hơn và nó không nhấn mạnh đến yếu tố giá. Giá trị sẽ được tạo ra mỗi khi KH cảm nhận họ được chào đón, họ quan trọng và được quý trọng. Tổ chức có thể tạo ra giá trị khi họ sử dụng những lao động có năng lực, thân thiện và có ích. Những giá trị có thể tạo ra những cảm xúc cho KH mới là những giá trị bền vững.
Cả hai giá trị này đều quan trọng. Tuy nhiên, những mối quan hệ với KH thật sự không thể tạo thành nếu chỉ dựa trên những giá trị chức năng. Quan hệ KH yêu cầu sự kết nối cảm xúc giữa tổ chức và những KH của họ. Giá trị tâm lý sẽ bền vững hơn nhưng lại khó có được.
Việc thấu hiểu và phân phối giá trị này dành cho KH có ý nghĩa quan trọng và quyết định mức độ hài lòng của KH. Đó là cảm giác của KH khi so sánh mức kỳ vọng và thực tế được đáp ứng. Nếu thực tế đáp ứng thấp hơn kỳ vọng, KH thất vọng; nếu bằng, KH hài lòng; còn nếu cao hơn thì rất hài lòng. Thực tế cho thấy chỉ KH rất hài lòng thì mới chuyển thành KH trung thành.
Để xây dựng mối quan hệ bền vững với KH, giá trị dành cho KH được xem xét như là một quá trình liên tục chứ không phải giá trị từ tối đa hóa lợi ích của mỗi giao dịch bán hàng đơn lẻ. Sự phát triển của quan hệ KH yêu cầu một sự hiểu biết đầy đủ về quá trình mà KH tự tạo ra giá trị cho bản thân (tự cảm nhận giá trị). Khi xem xét toàn bộ quá trình, những hoạt động đơn lẻ sẽ không tính đến, thay vào đó, hai bên sẽ cùng phối hợp và điều chỉnh lẫn nhau theo hướng cùng tạo ra giá trị cho cả hai. Theo đó, lợi thế cạnh tranh không chỉ dựa trên giá cả mà còn phụ thuộc vào khả năng nhà cung cấp giúp KH tạo ra giá trị cho bản thân họ như thế nào.
Để gia tăng giá trị dành cho KH, DN có thể có hai phương án: tăng giá trị mà KH có thể nhận được hoặc giảm tổng chi phí mà họ bỏ ra. Phương án thứ nhất, đòi hỏi phải củng cố hay nâng cao lợi ích của sản phẩm/dịch vụ của đội ngũ nhân viên bán hàng hay hình ảnh của công ty. Phương án Luan van 11 thứ hai, đòi hỏi phải giảm chi phí của KH thông qua việc giảm giá, đơn giản thủ tục mua bán, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc mua và sử dụng hàng hoá cho KH… Cả hai phương án này đòi hỏi có sự phối hợp đồng bộ của tất cả các biến số của hệ thống Marketing-Mix của DN. b2- Giá trị vòng đời khách hàng Giá trị vòng đời khách hàng [2] (Lifetime Value - LTV, hay Customer Lifetime Value – CLV) là giá trị mà tổ chức nhận lại từ KH khi họ đã được tổ chức thỏa mãn.
Cùng với những giá trị về mặt kinh tế, KH trung thành cũng chính là phương tiện truyền thông tốt nhất của DN.