CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁCH HÀNG VÀ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG 1. Tổng quan về khách hàng a. Khái niệm khách hàng Khách hàng là một tập hợp những cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp,.có nhu cầu sử dụng sản phẩm của DN và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu đó.
Khách hàng không nhất thiết là những người mua sản phẩm của doanh nghiệp. Họ có thể là các nhà đầu tư, cơ quan quản lý và cả những người làm việc trong doanh nghiệp. Họ là những người mà chúng ta phục vụ dù họ có trả tiền cho dịch vụ của chúng ta hay không [8 tr. Đối với một ngân hàng thì KH tham gia vào cả quá trình cung cấp đầu vào như gửi tiết kiệm, mua kỳ phiếu,…Đồng thời, cũng là bên tiêu thụ đầu ra khi vay vốn từ ngân hàng.
Mối quan hệ của ngân hàng với khách hàng là mối quan hệ hai chiều, tạo điều kiện cho nhau cùng tồn tại và phát triển. Sự thành công hay thất bại của KH là nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, ngược lại sự đổi mới của ngân hàng về chất lượng sản phẩm dịch vụ lại tạo điều kiện cho sự thành công trong kinh doanh của KH. Phân loại khách hàng Khách hàng có thể là người sử dụng hoặc không sử dụng sản phẩm dịch vụ. Phân loại khách hàng để có định hướng kinh doanh chính xác và hiệu quả.
Trên thực tế, khách hàng có rất nhiều loại, phân loại KH dựa trên các tiêu chí khác nhau. Dựa vào hành vi mua của KH thì KH phân thành hai loại: KHTC và KHCN. - Khách hàng tổ chức: KHTC thường có những quyết định mua có tính chất phức tạp hơn. Những vụ mua sắm thường liên quan đến lượng tiền khá Luan van 9 lớn, các cân nhắc phức tạp về mặt kinh tế kỹ thuật và các ảnh hưởng qua lại giữa nhiều người thuộc nhiều cấp độ trong tổ chức.
Việc mua của tổ chức mang tính chất phức tạp, mất nhiều thời gian hơn để đưa ra quyết định. - Khách hàng cá nhân: Quyết định mua của KHCN thường ít phức tạp hơn KHTC. Việc mua sắm của người tiêu dùng chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố văn hóa, xã hội, cá nhân và tâm lý. Vai trò của khách hàng Khách hàng có vai trò quan trọng đối với DN.
Thứ nhất, KH là người trực tiếp tạo nên doanh thu cho DN. Thứ hai, KH là những người tuyên truyền sản phẩm dịch vụ của DN về chất lượng, giá cả, chức năng, đặc điểm của sản phẩm hay dịch vụ đó. Thứ ba, họ là những người có ảnh hưởng to lớn đến sự tồn tại và phát triển của DN, bởi vì nếu khách hàng không sử dụng sản phẩm dịch vụ của DN thì có thể gây thiệt hại và thậm chí loại bỏ những DN có sản phẩm không được thị trường chấp nhận. Thứ tư, KH có thể đóng góp ý kiến giúp DN nâng cao chất lượng hay cải tiến sản phẩm, dịch vụ.
Thứ năm, KH là “ăng ten” thu thập thông tin thị trường để DN hoàn thiện sản phẩm của mình…Từ đó cho thấy KH là một trong những tài sản quan trọng của DN. Việc phân tích vai trò của KH không phải là mục đích của bài viết này, mà qua việc phân tích vai trò của KH để làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách quan hệ đúng đắn với KH, nắm rõ được những giá trị tồn tại của họ, khai thác những giá trị này để chuyển thành lợi nhuận của DN. Quan hệ khách hàng a. Khái niệm quan hệ khách hàng Mối quan hệ với khách hàng là quá trình tương tác hai chiều giữa người bán và người mua (khách hàng), trong đó hai bên cùng trao đổi các nguồn lực lẫn nhau để cùng đạt được mục tiêu của mình [3, tr.
Luan van 10 Hình 1. Quan hệ khách hàng Nguồn: [3] b. Các giai đoạn của mối quan hệ khách hàng - Thiết lập mối quan hệ KH: Để thiết lập mối quan hệ, cần có các đầu mối thông tin. Thông tin đó dù không nhiều nhưng phải đảm bảo đáng tin cậy.
- Củng cố mối quan hệ KH: Để tăng giá trị mối quan hệ, các DN cần tập trung nhiều hơn cho việc củng cố các mối quan hệ hơn là thiết lập chúng. Điều quan trọng trong giai đoạn này là chuyển từ sự hài lòng của KH thành sức mạnh của mối quan hệ. - Kết thúc mối quan hệ KH: Khi mối quan hệ không thể tồn tại được thì sẽ dẫn đến phải chấm dứt, nhưng điều quan trọng là làm thế nào để hai bên cùng cảm thấy hài lòng. Quan hệ KH là một tài sản quan trọng của tất cả các DN, quan hệ KH càng được phát triển, tài sản của DN càng lớn.
Và mục tiêu của CRM là giá trị mối quan hệ. Chính vì vậy để thực hiện tốt CRM, đòi hỏi mỗi DN phải nắm rõ các khía cạnh của mối quan hệ khách hàng. Giá trị của mối quan hệ khách hàng Giá trị cho khách hàng (customer value) Khách hàng ngày nay càng đòi hỏi cao hơn những gì mà KH mong đợi, không còn đơn giản là chất lượng cao hay giá thấp, do vậy các DN cần chú trọng đến việc tạo dựng những giá trị mà KH sẽ có được khi sử dụng các sản phẩm và dịch vụ của DN. Luan van 11 Tổng giá trị KH là toàn bộ lợi ích mà KH mong đợi nhận được từ sản phẩm hay dịch vụ.
Tổng chi phí của KH là toàn bộ chi phí mà KH bỏ ra để đánh giá, mua, sử dụng và loại bỏ một sản phẩm hay dịch vụ. Giá trị cung cấp cho KH là sự khác biệt giữa tổng giá trị và tổng chi phí của KH. Những giá trị mà tổ chức có thể mang đến cho khách hàng được chia làm hai loại cơ bản là giá trị chức năng và giá trị tâm lý. + Giá trị chức năng: Là những tiện ích xuất phát từ chất lượng và những đặc tính được mong đợi của sản phẩm hay dịch vụ.
Các giá trị chức năng sẽ được tạo ra thông qua các yếu tố giá, sự tiện dụng, tính sẵn có và công nghệ khi khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ. Những giá trị chức năng rất dễ bị sao chép. Các đối thủ cạnh tranh cũng sẽ hạ giá hoặc sử dụng cùng một công nghệ, vì vậy mang đến cho khách hàng những giá trị chức năng là cần thiết nhưng không thể tạo ra lợi thế cạnh tranh cho tổ chức. + Giá trị tâm lý: Những giá trị tâm lý thì thường khó sao chép và nó không nhấn mạnh đến yếu tố giá.
Giá trị sẽ được tạo ra mỗi khi khách hàng cảm nhận họ được chào đón, họ được quý trọng và quan trọng đối với doanh nghiệp. DN có thể tạo ra giá trị khi họ sử dụng những lao động có năng lực, thân thiện và có ích. Những giá trị có thể tạo ra những cảm xúc cho khách hàng mới là những giá trị bền vững. Việc tạo dựng những giá trị tâm lý cho khách hàng về cơ bản là khác với việc tạo dựng những giá trị chức năng thông qua việc hạ giá, gia tăng sự tiện lợi và công nghệ.
Cả hai loại giá trị này đều quan trọng. Tuy nhiên, mối quan hệ khách hàng thật sự không thể tạo thành nếu chỉ dựa trên những giá trị chức năng. Quan hệ khách hàng yêu cầu sự kết nối cảm xúc giữa tổ chức và những khách hàng của họ. Giá trị tâm lý thể hiện giá trị của quan hệ khách hàng, giá trị này sẽ bền vững hơn nhưng lại khó có được [4].
Luan van 12 Giá trị từ khách hàng (customer lifetime value) Giá trị từ khách hàng là những giá trị mà tổ chức nhận lại từ khách hàng khi khách hàng đã được tổ chức thỏa mãn. Trước hết phải kể đến những giá trị về mặt kinh tế, cụ thể là khả năng sinh lời của khách hàng, nó phụ thuộc rất nhiều vào sự gắn bó của khách hàng, càng gắn bó lâu dài với tổ chức, khách hàng càng đem lại cho tổ chức nhiều giá trị hơn. Giá trị về mặt kinh tế có thể chia làm 3 phần: Giá trị quá khứ là những giá trị đã được nhận thấy cho đến thời điểm này, giá trị hiện tại là những giá trị tương lai KH có thể mang lại cho tổ chức, giá trị tiềm tàng là các hoạt động marketing có thể khiến khách hàng hưởng ứng nhiệt tình hơn. Các tổ chức xác định đúng giá trị mà tổ chức sẽ nhận lại được từ khách hàng.
Tiếp đến là giá trị truyền thống: KH trung thành là khách hàng khi có nhu cầu liên quan đến sản phẩm dịch vụ của DN thì ngay lập tức họ sẽ nghĩ đến, tìm đến DN đó và họ luôn là phương tiện truyền thông tốt nhất của DN. Họ sẽ là những người quảng bá tốt nhất thông tin, chất lượng sản phẩm hay thương hiệu của DN đến với mọi người, những nhận xét tốt của khách hàng với mọi người sẽ giúp nâng cao uy tín và hình ảnh của đơn vị. Sự thành công tiếp theo khi tiếp tục mở rộng toàn bộ cơ sở khách hàng và có nhiều khả năng trong việc kinh doanh mới thông qua lời giới thiệu, DN giảm chi phí khuyến mãi [4]. Vì vậy, doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng cần phải tạo dựng, nuôi dưỡng, phát triển mối quan hệ với khách hàng hiện tại để họ trở thành khách hàng trung thành của ngân hàng.
* Để tạo giá trị của KH, doanh nghiệp phải làm tốt các công việc: - Cung cấp cho KH những sản phẩm và dịch vụ có giá trị. - Cung cấp cho KH những thông tin chân thật, có lợi cho việc ra quyết định lựa chọn. Luan van 13 - Cung cấp nhiều loại hình thức giao lưu, làm cho KH có thể bảo đảm duy trì liên hệ với bạn ở bất kỳ thời gian nào, ở bất kỳ địa điểm nào. - Có thể lập tức giải quyết các vấn đề, sự trách móc, phản ứng tiêu cực của KH.
- Cung cấp đầy đủ những phương án giải quyết sự thắc mắc về vấn đề của KH, những lần sau có thể thu được những đánh giá tốt đẹp của KH. - Có kỹ thuật cao và chuyển tính thực dụng của nó thành việc thỏa mãn lợi ích của KH. - Đối với tất cả giao dịch của KH, tuyệt đối không được thổi phồng lời nói mà không có biện pháp thực hiện. - Nhân viên giao dịch với khách hàng phải thân thiện, tạo được giá trị tâm lý khi giao dịch với KH.
KHÁI QUÁT VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG 1. Khái niệm và đặc điểm quản trị quan hệ khách hàng a.