CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG 1. KHÁCH HÀNG VÀ GIÁ TRỊ CỦA MỐI QUAN HỆ KHÁCH HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khách hàng a. Định nghĩa Khái niệm KH được nhìn dưới nhiều khía cạnh khác nhau.
Có quan điểm cho rằng: KH là người mua hoặc có sự quan tâm, theo dõi một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó mà sự quan tâm này có thể dẫn đến hành động mua. Có một quan điểm khác cho rằng: KH là bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào tham gia vào kênh phân phối hay quyết định mua(không phải là đối thủ cạnh tranh) mà hành động của họ có thể tác động đến việc mua sắm hàng hóa hay dịch vụ của công ty.Với định nghĩa thứ hai có thể hiểu được KH của công ty là bao hàm cả KH hiện hữu và KH tiềm năng mà công ty tìm kiếm cho tương lai. Theo cách dùng chung nhất mọi người cho rằng KH tồn tại ở hai cấp độ: tổ chức và cá nhân. Ở cấp độ đầu thì KH là một đơn vị tổ chức chẳng hạn như doanh nghiệp (bao gồm những thực thể phân phối như người bán sỉ và bán lẻ), chính phủ và gia đình.
Ở cấp độ sau thì KH là một cá nhân với quyền ra quyết định hay tầm ảnh hưởng trong đơn vị tổ chức. Tuy nhiên nói một cách chặt chẽ dưới góc độ tiếp thị, KH luôn luôn là những cá nhân. Các tổ chức không đưa ra quyết định, những người trong tổ chức đó mới đưa ra quyết định. Phân loại khách hàng v Theo thời gian: Theo thời gian KH có thể chia làm 3 loại sau: + KH quá khứ : KH quá khứ là những KH đã từng mua các sản phẩm của chúng ta hoặc đã từng tiếp nhận các dịch vụ của chúng ta.
Trong số họ, có người chỉ từng mua một lần, có người có thể thường xuyên mua hàng; có người mua hàng có kế hoạch, có người chỉ vì thuận đường nên ghé vào mua Luan van 10 hàng. Giao dịch với những KH này so với những KH mới đơn giản hơn rất nhiều, bởi hai bên đã hiểu nhau, tín nhiệm nhau, rất dễ dàng tiến hành làm ăn. + KH hiện tại: là những KH đang tiến hành giao dịch mua bán với công ty. + KH tương lai: là chỉ những người trong tương lai có thể sẽ mua sản phẩm và dịch vụ của chúng ta.
v Theo không gian: + KH bên ngoài: Người bên ngoài tổ chức mua hàng hóa dịch vụ do tổ chức cung cấp. + KH nội bộ: là một cách định nghĩa nhân viên ngoài bộ phận của bạn, ở bên trong tổ chức, mà công việc củ họ phụ thuộc vào công việc của bạn. Vì vậy, họ là KH của bạn. Trách nhiệm của bạn là cung cấp cho họ những điều mà họ cần để thực hiện công việc một cách đúng đắn.
v Theo mục đích sử dụng: + KH cá nhân: là những cá nhân mua hàng hoá để dùng riêng. + KH tổ chức: là tổ chức mua hàng hoá và dịch vụ để sản xuất, để bán lại hay để phục vụ cho các nhu cầu hoạt đông chung.KH tổ chức gồm: - KH kỹ nghệ : là những cá nhân, tổ chức mua hàng hoá và dịch vụ nhằm đưa vào sản xuất để làm ra sản phẩm, dịch vụ khác để bán, cho thuê hoặc cung cấp cho người khác. - KH là người bán lại: Là những tổ chức mua hàng hoá, mục đích bán lại hoặc cho thuê để kiếm lợi. - KH công quyền: gồm các đơn vị chính quyền , địa phương mua hoặc thuê mướn hàng hóa dịch vụ để thực hiện những chức năng chính của chính quyền.
Vai trò của khách hàng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp - KH là người quyết định sự sống còn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại khi có được niềm tin của KH. - KH là mục tiêu, là cảm hứng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải tìm hiểu nhu cầu của KH và đáp ứng các nhu cầu đó.
- KH là nguồn lợi nhuận mà doanh nghiệp hướng tới, là tài sản quý giá Luan van 11 nhất của doanh nghiệp. Giá trị của mối quan hệ khách hàng a. Giá trị cho khách hàng KH ngày càng đòi hỏi cao hơn, những gì mà KH mong đợi không còn đơn giản là chất lượng cao hay giá thấp. Do vậy, các tổ chức cần chú trọng đến việc tạo dựng những giá trị mà KH sẽ có được khi sử dụng sản phẩm dịch vụ của tổ chức.
Giá trị cung cấp cho KH là sự khác biệt giữa tổng giá trị và tổng chi phí của KH. Tổng giá trị KH là toàn bộ lợi ích mà KH mong đợi nhận được từ sản phẩm hay dịch vụ. Tổng chi phí của KH là toàn bộ chi phí mà KH bỏ ra để đánh giá, mua, sử dụng và loại bỏ một sản phẩm hay dịch vụ. Những giá trị mà tổ chức có thể mang đến cho KH được chia làm hai loại cơ bản là: giá trị chức năng và giá trị tâm lý.
· Giá trị chức năng: là những tiện ích xuất phất từ chất lượng và những đặc tính được mong đợi của sản phẩm hay dịch vụ. Các giá trị chức năng sẽ được tạo ra thông qua các yếu tố giá, sự tiện dụng, tính sẵn có và công nghệ khi KH sử dụng sản phẩm dịch vụ. Những giá trị chức năng rất dễ bị sao chép. Các đối thủ cạnh tranh cũng sẽ hạ giá hoặc sử dụng một công nghệ.
Vì vậy mang đến cho KH những giá trị chức năng là cần thiết nhưng không thể tạo ra lợi thế cạnh tranh. · Giá trị tâm lý: Những giá trị tâm lý thường khó sao chép hơn và nó không nhấn mạnh đến yếu tố giá. Giá trị sẽ được taọ ra mỗi khi KH cảm nhận họ được chào đón, họ quan trọng và được quý trọng. Tổ chức có thể tạo ra giá trị khi họ sử dụng những lao động có đủ năng lực, thân thiện và có ích.
Những giá trị có thể tạo ra cảm xúc cho KH mới là những giá trị bền vững. Việc tạo dựng những giá trị tâm lý cho KH về cơ bản khác với việc tạo dựng những giá trị chức năng thông qua việc hạ giá, gia tăng sự tiện lợi và công nghệ. Cả hai loại giá trị này đều quan trọng. Tuy nhiên những mối quan Luan van 12 hệ KH thật sự không thể tạo thành mà chỉ dựa trên những giá trị chức năng.
Quan hệ KH yêu cầu sự kết nối cảm xúc giữa tổ chức và những KH của họ. Giá trị tâm lý sẽ bền vững hơn nhưng lại khó có được. Giá trị từ khách hàng Giá trị từ KH là những giá trị mà tổ chức nhận lại từ những KH khi KH được thỏa mãn. Trước hết phải kể đến những giá trị về mặt kinh tế, cụ thể là khả năng sinh lợi của KH, nó phụ thuộc rất nhiều vào sự gắn bó của KH, càng gắn bó lâu dài với tổ chức, KH càng đem lại cho tổ chức nhiều giá trị hơn.
Giá trị về mặt kinh tế của KH có thể chia làm 3 phần: Giá trị quá khứ là những giá trị đã được nhận thấy cho đến thời điểm này, giá trị hiện tại là những giá trị tương lai KH có thể mang lại cho tổ chức, giá trị tiềm tàng - các hoạt động marketing có thể khiến cho KH hưởng ứng nhiệt tình hơn. Tiếp đến là giá trị truyền thông: KH trung thành là phương tiện truyền thông tốt nhất của doanh nghiệp. Họ sẽ là những người quảng bá tốt nhất thông tin, chất lượng sản phẩm hay thương hiệu của doanh nghiệp đến với giới công chúng. Để tạo giá trị của KH, công ty phải làm tốt các công việc: § Cung cấp cho KH những sản phẩm và dịch vụ có giá trị § Cung cấp cho KH những thông tin chân thật có lợi cho việc ra quyết định mua hàng § Cung cấp cho KH tổ chức đầy đủ không gian để lựa chọn § Cung cấp nhiều loại cửa ngõ giao lưu, làm cho KH có thể bảo đảm duy trì liên hệ với bạn ở bất kỳ thời gian nào ở bất kỳ địa điểm nào § Có thể lập tức giải quyết các vấn đề, sự trách móc và phản ứng tiêu cực của KH § Cung cấp đầy đủ những phương án giải quyết sự thắc mắc về vấn đề của KH, những lần sau có thể thu được những đánh giá tốt đẹp của KH Luan van 13 § Có kỹ thuật cao và chuyển tính thực dụng của nó thành việc thoả mãn lợi ích của KH.
§ KH có thể thanh toán bằng nhiều phương thức § Đối với tất cả giao dịch của KH, tuyệt đối không được thổi phồng lời nói mà không có biện pháp thực hiện. Đặc điểm của mối quan hệ khách hàng - Tính phụ thuộc lẫn nhau - Sự tương tác: khi hai bên tương tác họ trao đổi thông tin và những thông tin này là cơ sở để xây dựng quan hệ. Tương tác xảy ra khi KH mua sản phẩm hay dịch vụ của công ty. - Tính lặp đi lặp lại - Lợi ích: nếu KH không có lợi, KH sẽ không tiếp tục mối quan hệ này.
- Thay đổi hành vi: Đây là một đặc tính quan trọng trong mối quan hệ với KH. Các công ty thường mắc sai lầm trong việc tin rằng sự tương tác với KH chỉ cần liên quan đến thủ tục, thông tin bên ngoài và chuyển giao những cách thức phục vụ giống nhau cho tất cả các KH. Nhưng KH thì không giống nhau, nếu công ty không có những hành động không phù hợp với các KH đặc biệt thì họ sẽ không thấy có lợi. Kết quả là họ sẽ không tiếp tục mối quan hệ này.
- Tính duy nhất: Mỗi mối quan hệ là khác nhau. Công ty thực hiện quan hệ KH phải được chuẩn bị để có những cách thức tương tác khác nhau, nhớ hồ sơ từng đối tượng, cam kết về hành vi khác nhau đối với những KH khác nhau. - Đạt được sự tin tưởng 1. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG (CUSTOMERS RELATIONSHIP MANAGEMENT) 1.
Các định nghĩa về CRM Định nghĩa 1: CRM là triết lý kinh doanh lấy KH làm trung tâm, trong Luan van 14 đó lấy cơ chế hợp tác với khách hàng bao trùm toàn bộ quy trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. CRM được xác định là cả một hệ thống những quy trình hỗ trợ mối quan hệ KH trong suốt vòng đời kinh doanh, nhằm đạt được mục tiêu chính: tạo ra dòng thu hút những KH mới và phát triển những KH sẵn có.