CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về nhân lực, nguồn nhân lực, quản trị nhân lực Đoàn Thị Thu Hà [4] cho rằng, nguồn nhân lực được hiểu ở đây là nguồn lực của mỗi con người bao gồm thể lực và trí lực. Nguồn nhân lực là khái niệm được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau: Trong phạm vi xã hội: Nguồn nhân lực cung cấp cho xã hội toàn bộ sức lao động đảm bảo cho xã hội phát triển một cách bình thường. Trong phạm vi tổ chức: Nguồn nhân lực bao gồm tất cả mọi cá nhân tham gia vào bất cứ hoạt động nào với những vai trò cụ thể trong tổ chức.
Nó được coi là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của tổ chức đó. Các yếu tố cơ bản của nguồn nhân lực Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác trong tổ chức, nó có các yếu tố cơ bản giúp phân biệt với các nguồn lực khác. Nó bao gồm các yếu tố sau: Số lượng nguồn nhân lực trong tổ chức: Là tổng số người được tổ chức đó thuê mướn dài hạn hay ngắn hạn thậm chí là thời vụ tuỳ thuộc vào đặc thù công việc của tổ chức đó, được trả công và được ghi vào danh sách nhân sự của tổ chức đó, để thực hiện các mục tiêu đề ra của tổ chức, nhằm duy trì hoạt động và phát triển của tổ chức (Đoàn Thị Thu Hà [4]). Chất lượng nguồn nhân lực: Là trạng thái nhất định bên trong nguồn nhân lực, nó thể hiện các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong nguồn nhân lực.
Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu sau (Nguyễn Ngọc Quân [6]): 7 Khả năng về sức khỏe của nguồn nhân lực: là trạng thái về thể chất cũng như tinh thần của con người. Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực: là chỉ tiêu đánh giá kiến thức phổ thông của nguồn nhân lực về xã hội và tự nhiên (như số lượng nhân lực biết chữ, số lượng nhân lực tham gia vào các lớp học đào tạo nghề). Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực tạo ra khả năng tiếp thu và vận dụng kỹ năng lao động một cách sáng tạo vào các hoạt động của tổ chức. Trình độ chuyên môn kỹ thuật (kỹ năng) của nguồn nhân lực: là sự hiểu biết và khả năng thực hiện về một chuyên môn, khoa học kỹ thuật vào trong tổ chức, thể hiện ở cơ cấu lao động được đào tạo, cơ cấu cấp bậc đào tạo (sơ cấp, trung cấp, cao cấp), cơ cấu lao động kỹ thuật và các nhà chuyên môn, cơ cấu trình độ đào tạo.
Chức năng và nhiệm vụ của công tác quản trị nguồn nhân lực Nguyễn Ngọc Quân [6]), Dựa vào chức năng của quản trị nguồn nhân lực, hoạt động quản trị được chia thành 3 nhóm chức năng chủ yếu: (i), Nhóm chức năng thu hút (hình thành) nguồn nhân lực Kế hoạch hóa nguồn nhân lực: được thể hiện thông qua mô hình sau: Năng suất lao Thị trường lao Thị trường lao Cầu sản phẩm động bên ngoài động động bên trong Cầu lao động Cung lao động Những điều kiện và giải pháp lựa chọn Hình 1.1: Kế hoạch hóa nguồn nhân lực 8 Thiết kế và phân tích công việc: thực chất của công việc này là nhà quản lý xác định rõ tính chất và yêu cầu của công việc đối với nhân lực thực hiện. Từ đó tạo cơ sở để đánh giá chính xác mức độ thực hiện và hoàn thành công việc. (ii), Nhóm chức năng đào tạo và phát triển: nhóm chức năng này chú trọng các hoạt động nhằm nâng cao năng lực nhân viên, đảm bảo cho nhân viên trong tổ chức có kỹ năng, trình độ lành nghề cần thiết để hoàn thành công việc được giao và tạo điều kiện cho nhân viên phát triển được tối đa các năng lực của bản thân. Bên cạnh đào tạo mới còn có hoạt động đào tạo lại nhân viên mỗi khi có sự thay đổi về nhu cầu sản xuất kinh doanh hay quy trình kỹ thuật, đổi mới công nghệ (Nguyễn Ngọc Quân [6]).
(iii), Nhóm chức năng duy trì nguồn nhân lực: nhóm này chú trọng đến việc duy trì và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong tổ chức. Nhóm chức năng này bao gồm 3 hoạt động (Nguyễn Ngọc Quân [6]): Đánh giá ý thức thực hiện công việc Thù lao lao động cho nhân viên Duy trì và phát triển môi trường văn hoá tốt đẹp trong tổ chức. Sự cần thiết của việc hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực “Mọi quản trị suy cho cùng cũng là quản trị con người”. Thật vậy, quản trị nguồn nhân lực có mặt trong bất kỳ một tổ chức hay một doanh nghiệp nào nó có mặt ở tất cả các phòng ban, đơn vị.
Hiệu quả của công tác quản trị nguồn nhân lực là vô cùng lớn đối với một doanh nghiệp. Quản trị nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ các biện pháp áp dụng cho nhân viên của một doanh nghiệp để giải quyết tất cả các trường hợp xảy ra liên quan đến công việc đó. Nếu không có quản trị nguồn nhân lực mọi việc sẽ trở nên vô tổ chức, vô kỷ luật. Đây là một công tác hết sức khó khăn vì nó động tới những con người cụ thể có những sở thích năng lực riêng biệt.
Việc hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhằm tạo ra được một đội ngũ người lao động nhiệt tình hăng hái, gắn bó với doanh nghiệp. 9 Hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực để tạo động lực cho từng người trong doanh nghiệp và kết hợp động lực của tất cả mọi người trong doanh nghiệp. Hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực là sắp đặt những người có trách nhiệm, có trình độ chuyên môn để làm các công việc cụ thể trong chính sách nhân sự. Là việc hình thành các quy chế làm việc, cải thiện điều kiện lao động, tạo môi trường văn hoá hợp lý gắn bó mọi người trong doanh nghiệp với nhau, đồng thời thu hút được các nhân sự từ nơi khác đến, đẩy mạnh việc đào tạo nâng cao tay nghề người lao động, phải làm cho mọi người luôn thường trực ý nghĩ: “nếu không cố gắng sẽ bị đào thải”.
Vì vậy có thể khẳng định được rằng việc hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là thực sự cần thiết cho sự phát triển của các doanh nghiệp. Vai trò của công tác quản trị nguồn nhân lực trong tổ chức Quản trị nguồn nhân lực cũng như quản trị các bộ phận khác trong tổ chức đều trải qua các bước tiến hành là từ lập kế hoạch - tổ chức - thực hiện kế hoạch đến kiểm tra trong phạm vi quản lý của mình (Nguyễn Ngọc Quân [6]). Ngoài ra quá trình quản trị nguồn nhân lực còn tham gia vào các quá trình quản trị bộ phận khác bằng các công việc như: cố vấn, tư vấn, cung cấp dịch vụ và kiểm tra nhằm đảm bảo cho sự phát triển đúng hướng của các nguồn lực. Công tác quản trị nguồn nhân lực trong tổ chức có các vai trò sau: (i), Vai trò soạn thảo các chiến lược và chính sách về nguồn nhân lực: Các chiến lược và chính sách này phải phù hợp với mục tiêu phát triển chung của tổ chức, tức là nó phải khắc phục những khó khăn đồng thời tận dụng tối đa khả năng nguồn lực hiện có trong tổ chức nhằm hoàn thành tốt mục tiêu đã đề ra.
(ii), Vai trò tư vấn và cố vấn: Bộ phận quản lý nguồn nhân lực có chức năng tham mưu tư vấn và cố vấn cho các cấp quản lý khác, bằng cách thu 10 thập thông tin, phân tích và phát hiện các vấn đề, thiết kế các chương trình và các giải pháp, trợ giúp và tham mưu giải quyết các vấn đề về nguồn nhân lực. (iii), Vai trò kiểm soát: Bộ phận quản lý nguồn nhân lực phải xây dựng các chính sách, thủ tục và kiểm soát điều hành để mọi hoạt động của tổ chức phải phù hợp với xu hướng phát triển chung của tổ chức và đạt được mục tiêu đề ra của tổ chức. Những nội dung cơ bản của công tác quản trị nguồn nhân lực 1. Xác định cơ cấu tổ chức Trong quản trị không có cơ cấu tổ chức nào là tổ chức tốt nhất và hoàn chỉnh nhất.
Tổ chức tốt nhất là tổ chức năng động – nghĩa là cơ cấu tổ chức sẽ được điều chỉnh tùy theo tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp (Nguyễn Hữu Thân [9]). Các doanh nghiệp thiết kế cơ cấu tổ chức khác nhau tùy theo tầm quan trọng và tính phức tạp của công việc hoạt động sản xuất kinh doanh. Cơ cấu tổ chức, tùy theo mức độ công việc có thể theo từng cấp độ: (i), Lãnh đạo (ii), Quản lý cao cấp (iii), Quản lý trung cấp (iv), Nhân viên 1. Xác định nhu cầu nhân lực cho doanh nghiệp Nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp là toàn bộ khả năng lao động cần thiết cho thực hiện, hoàn thành các nhiệm vụ trước mắt (kế hoạch sản xuất kinh doanh) và các nhiệm vụ trong tương lai (chiến lược kinh doanh).
Đối với một doanh nghiệp, việc xác định nhu cầu nhân lực bắt đầu từ chiến lược kinh doanh, sẽ xây dựng kế hoạch phương án sản xuất kinh doanh cụ thể, sau đó dựa vào định mức lao động (do máy móc và công nghệ, trình độ lao động quyết định), dựa vào nhu cầu thay thế cho số lượng nhân sự về hưu, chuyển công tác, đi học. để tính ra nhu cầu nhân lực. Từ nhu cầu nhân 11 lực và cơ cấu nhân lực cần có, doanh nghiệp sẽ xác định được nhu cầu cần tuyển thêm và nhu cầu đào tạo lại cho mình. Nhu cầu nhân lực phải được thể hiện bằng số lượng và tỷ trọng của các loại khả năng lao động (cơ cấu nhân lực).
Mức độ đáp ứng phù hợp của cơ cấu nhân lực hiện có so với cơ cấu nhân lực cần phải có cho thực hiện, hoàn thành các nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp được gọi là chất lượng nhân lực (Đỗ Văn Phức [5]). Quá trình xác định nhu cầu nhân lực cho doanh nghiệp tổng quát như hình 1.2: Chiến lược kinh doanh của DN Kế hoạch, phương án SXKD cụ thể Trình độ trang bị máy Định móc, thiết bị cho lao động mức Trình độ của nguồn nhân LĐ lực Nhu cầu nhân lực (cơ Nhu cầu thay thế cho số cấu nhân lực cần có) về hưu, số sẽ chuyển đi nơi khác, số sẽ đi đào tạo Số hiện có phù hợp với Nhu cầu tuyển thêm các yêu cầu của các vị trí mới kể cả chuyển đổi và đào tạo lại cấp tốc Hình 1.