Chương 1: Tổng quan về nhiệm vụ của luận văn, trình bày những vấn đề cơ bản sẽ được giới thiệu trong đề tài, lý do lựa chọn đề tài và tóm tắt sơ qua về cấu trúc luận văn. • Chương 2: Cơ sở lý thuyết về quản trị mạng, trình bày những vấn đề cơ bản của giao thức quản trị mạng SNMP, sự ra đời và phát triển của các giao thức quản trị và giám sát mạng, các vấn đề liên quan đến SNMP, MIB, cũng như các chuẩn cơ bản của SNMP, các hạn chế của SNMP và khắc phục… • Chương 3: Các mô hình và giải pháp giám sát mạng hiện nay, trình bày về các mô hình giám sát cơ bản và các sản phẩm phần mềm giám sát mạng thông dụng hiện nay. • Chương 4: Xây dựng mô hình quản trị Mạng phân tán, cho Trường ĐHBKHN: đề xuất mô hình quản trị mạng cho hệ thống mạng phân tán nói chung và cụ thể cho hệ thống mạng của ĐHBK Hà nội. • Chương 5: Cài đặt và thử nghiệm, đưa ra Kết quả thực tiễn áp dụng, trình bày những kết quả đạt được của đề tài.
• Chương 6: Kết luận, trình bày những khả năng phát triển, mở rộng của đề tài, để có thể ứng dụng được nhiều hơn trong thực tế, đặc biệt là áp dụng vào hệ thống quản trị mạng trong các cơ quan, tổ chức và trong các trường Đại học ở Việt Nam. 12/98 Luận văn thạc sĩ Xử lý thông tin và truyền thông Chương II. Cơ sở lý thuyết về quản trị mạng II. Tổng quan về giám sát mạng II.
Khái niệm Theo tổ chức IEEE (IEEE Standard 802. 1]), “Quản trị mạng cung cấp cơ chế cho việc giám sát, điều khiển và phối hợp tất cả các đối tượng quản trị trong một hệ thống mở”. Trong định nghĩa về quản trị mạng, chức năng quan trọng của quản trị mạng là giám sát. Giám sát là việc liên tục theo dõi một mạng máy tính để phát hiện ra các thành phần hoạt động sai hoặc chậm và thông báo cho các thành viên quản trị mạng trong trường hợp khẩn cấp thông qua email, nhắn tin hay các hình thức báo động.
Đây là một chức năng quan trọng trong hệ thống quản trị mạng II. Mục đích giám sát mạng • Nâng cao tính sẵn sàng: Giám sát mạng làm tăng hiệu năng hoạt động của mạng máy tính bằng cách giảm thời gian chết của mạng và giảm thời gian phản hồi khi có sự cố. Những trục trặc của mạng phải thông báo cho người quản trị mạng để được phản hồi và sửa chữa kịp thời. • Giảm chi phí hoạt động: Tối thiểu hoá chi phí hoạt động của mạng là mục tiêu lớn nhất của việc giám sát mạng.
• Tăng hiệu năng mạng: Hiệu năng mạng được tăng lên nhờ tối ưu hoá hoạt động mạng, giám sát và phân bổ hợp lý các tài nguyên và giảm thiểu các đụng độ có thể xảy ra. • Đơn giản trong sử dụng: Các ứng dụng của giám sát mạng giúp cho việc quản trị mạng trở nên đơn giản và dễ dàng hơn. 13/98 Luận văn thạc sĩ Xử lý thông tin và truyền thông • Nâng cao tính an toàn: Các chức năng an ninh nhằm bảo vệ các tài nguyên mạng trước những truy cập bất hợp pháp. Tài nguyên giám sát: Các tài nguyên giám sát bao gồm các thành phần phần cứng, phần mềm trong mạng máy tính.
Các thành phần phần cứng: • Đường truyền và các thiết bị phục vụ kết nối: Bao gồm tất cả các thiết bị mạng ở tầng Vật lý như bộ tập trung, các bộ chuyển đổi giao thức, các đầu kết nối … • Các thành phần tính toán: Bao gồm các thiết bị lưu trữ, các thiết bị xử lý, máy in. • Các thành phần trung gian: Bao gồm các thiết bị như repeater, bridge, router, gateway và hub. • Các thành phần viễn thông: Bao gồm các thiết bị như modem, multiplexer, và switch như ATM switch. Các thành phần phần mềm: • Hệ điều hành: Hệ điều hành là phần mềm cơ sở cho mọi thiết bị tính toán ví dụ như DOS, Window, Linux … • Các phần mềm ứng dụng: Phần mềm ứng dụng bao gồm các phần mềm quản lý, các phần mềm xử lý văn bản, âm thanh, hình ảnh, các công cụ … • Các phần mềm trong các thiết bị trung gian: Là các phần mềm chứa trong router, switch, bridge, gateway, hub.
14/98 Luận văn thạc sĩ Xử lý thông tin và truyền thông • Các phần mềm viễn thông: Là các phần mềm cho phép kết nối nhiều mạng khác nhau. • Các dịch vụ mạng: HTTP, FTP, SMTP, IMAP, POP, DNS, DHCP, …. Các giao thức giám sát mạng II. Lịch sử của các giao thức quản trị, giám sát mạng: Cho tới gần đây, việc thu thập thông tin từ các thiết bị mạng khác nhau đã đòi hỏi các kỹ sư phải học một loạt các phương pháp để lấy được các dữ liệu.
Lý do đối với điều này là các sản phẩm nối mạng mới đã được phát triển, các nhà chế tạo chúng đã thiết lập các cơ chế thích hợp để có thể thu thập dữ liệu từ các sản phẩm của họ: kết quả là có hai công cụ có cùng chức năng nhưng được đưa ra từ các nhà chế tạo khác nhau, có thể cung cấp các phương pháp khác nhau để thu thập dữ liệu. Ví dụ: giả sử một công ty sử dụng hai loại router của DEC để nối với các máy mini của Digital. Loại đầu tiên được sản xuất bởi một công ty được gọi là RoutMe và loại thứ hai bởi một công ty khác có tên là FastRoute. Cả hai loại đều cho phép đăng nhập mạng từ xa.
Tuy nhiên, phương pháp sử dụng để tiếp cận thực sự tới các dữ liệu là khác nhau đáng kể. Để hỏi router RouteMe về số hiệu của thiết bị giao tiếp và các thông số hoạt động, ta sẽ phải sử dụng một thực đơn, trong khi để hỏi các thông tin đó đối với router FastRoute rất có thể lại phải sử dụng ba lệnh nào đó trên một giao diện theo kiểu lệnh. Trong một môi trường mạng hỗn tạp - việc sử dụng thông tin bằng những phương pháp riêng biệt do từng nhà sản xuất quy định gây chậm chạp và nặng nề. Các kỹ sư mạng đòi hỏi một phương pháp nhất quán để thu thập thông tin về tất cả các bộ phận hợp thành trên mạng.
Vì vậy, các kỹ sư muốn sử dụng các công cụ chung gọi là các công cụ tiêu chuẩn. Tuy các công cụ này đơn giản hơn 15/98 Luận văn thạc sĩ Xử lý thông tin và truyền thông các phương pháp được cung cấp bởi các nhà chế tạo vì chúng không được thiết kế riêng biệt cho quản trị và giám sát mạng, do đó sẽ có các mặt hạn chế của chúng như được bàn luận dưới đây. Đối với các mạng theo giao thức Internet (IP), các kỹ sư mạng có thể sử dụng giao thức thông báo điều khiển Internet (ICMP: Internet Control Message Protocol) Echo và Echo Reply để thu thập một số thông tin. Dự định ban đầu là gửi thông báo điều khiển giữa hai thiết bị mạng, nhưng phần lớn các thông báo ICMP khá phức tạp để đọc.
Tuy nhiên, cả hai thiết bị này đều có hỗ trợ giao thức IP, chúng cung cấp một phương pháp kiểm tra liên tục của hệ thống đối với một thiết bị ở xa. Với việc sử dụng các thông báo này, một thiết bị trên mạng khi tiếp nhận một thông báo ICMP (gọi là Echo) phải chuyển lại một báo đáp lại (Echo Reply) cho thiết bị nguồn. Nếu không thấy thông báo đáp lại có nghĩa là có một lỗi trên mạng. Ứng dụng đó được gọi là Ping (Packet Internet Groper).
Nó kiểm tra hai thiết bị có kết nối được hay không bằng cách gửi đi một ICMP Echo và đợi Echo Reply. Phần lớn các phiên bản của Ping cũng có thể đếm thời gian phản hồi tính theo miligiây giữa thông báo được gửi và báo đáp nhận được, cùng như tỷ lệ % của các thông báo đáp. TCP/IP không phải là bộ giao thức duy nhất cung cấp công cụ như Ping. Mẫu báo đáp này còn tồn tại trong một vài giao thức khác như Appletalk, Novell/ IPX, Xerox XNS và Banyan Vines.
Tuy nhiên, mẫu này có các mặt hạn chế sau đây: • Giao nhận không tin cậy. • Cần phải thăm dò. 16/98 Luận văn thạc sĩ Xử lý thông tin và truyền thông • Thông tin hạn chế. Phần lớn các ứng dụng ICMP này sử dụng tầng network của mạng chứ không sử dụng tầng transport.
Như vậy việc không nhận được Echo Reply không hẳn là không kết nối được. Có thể chỉ ra là một thiết bị mạng đã bỏ rơi báo đáp hay chỉ do thiếu vùng đệm tạm thời. Cũng có thể là hỏng bởi sự tắc nghẽn tại một mạch dữ liệu ở một thời điểm truyền dữ liệu. Để tìm ra thông tin hiện hành bằng việc tìm chức năng Echo/Echo Reply ta phải thăm dò liên tục các thiết bị mạng.
Việc thực hiện thăm dò này là một phương pháp cô lập lỗi thông dụng và có thể thực hiện nhanh chóng và dễ dàng và không đòi hỏi bất kỳ ưu tiên nào hoặc phần cứng hỗ trợ. Một tỉ lệ phần trăm lớn các báo đáp mất có thể cho biết có vấn đề về kết nối mạng. Một khi được xác định, kỹ sư mạng cần phải dựa vào các phương pháp khác để cô lập và xác định nguyên nhân. Một thủ tục quản trị mạng nên cung cấp khả năng để các thiết bị tự gửi các thông báo tới một hệ thống quản lý.
Điều này có thể gây thêm công việc thăm dò, nhưng nó là một phương pháp rất hiệu quả để thu thập thông tin quản trị mạng. Một lý do sơ đẳng của sự khiếm khuyết này là phép thử Echo/Echo Reply không được thiết kế để cung cấp nhiều thông tin quản trị mạng. Thông tin thu được thường không đủ để xác định tình trạng mạng và do đó không thể có các quyết định đúng đắn đối với việc quản trị mạng. Đối với mục đích này, cần sử dụng một thủ tục được viết riêng.
Những khó khăn trên đã làm nhu cầu cần có các giao thức quản trị mạng tiêu chuẩn trở nên bức xúc. Các nhà phát triển đã đưa ra hai hướng khác nhau để tạo ra các giao thức quản trị mạng. Giải pháp thứ nhất là SMNP (Simple Network Management Protocol) mà sau này đã chứng tỏ là rất thành công. Giải 17/98 Luận văn thạc sĩ Xử lý thông tin và truyền thông pháp thứ hai là CMIS/SMIP (Common Management Information Services/ Common Management Information Protocol) được phát triển bởi Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn (ISO) cũng có một ảnh hưởng nhất định trong cộng đồng mạng.