phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn chia thành hai chương, sáu tiết. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. NỘI DUNG CHƢƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CỦA PHÙNG KHẮC KHOAN 1. Điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XVI – XVII Thế kỷ XVI nhà nước tập quyền phong kiến Lê Sơ bước vào thời kỳ suy thoái.
Bắt đầu từ khi vua Lê Uy Mục (1505-1509) và vua Lê Tương Dực (1509 – 1516) lên nắm quyền, chính quyền Lê Sơ đã trở nên mục nát, trong triều đình thì các phe phái tranh giành quyền lợi, địa vị lẫn nhau. Uy Mục ươn hèn lao vào cuộc sống sa hoa - trụy lạc, không màng đến chính sự, bỏ mặc cho hoạn quan và ngoại thích lạm dụng quyền lực, bóc lột nhân dân, nhân lúc nhà vua hèn kém mà ngang ngược hoành hành. Người đương thời gọi ông là “Vua quỷ”. Trong Đại Việt sử ký toàn thư có ghi lại rằng: yêu thương kẻ ngoại thích để bọn xu nịnh tung hoành, xa rời người ngay thẳng làm cho người cương trực bỏ trốn tước đã hết mà làm thưởng không hết, dân cùng mà lãm thu khôn cùng, phú thuế thu đến tơ tóc mà dùng của cải thì như bùn đất, bạo ngược thì như Tần Chính, đối đãi công thần thì như chó ngựa, coi dân chúng thì như cỏ rác… Dưới thời vua Uy Mục, trong khi đời sống nhân dân cực khổ thì đền đài cung điện được xây dựng đồ sộ nguy nga, đã khoét sâu thêm mâu thuẫn giữa triều đình và nhân dân địa phương.
Đến năm 1509, Lê Uy Mục bị giết, vua Tương Dực lên thay cũng đi vào con đường trụy lạc. Tương Dực cho xây đại điện có 100 gian và cửu trùng đài chín cấp tại kinh thành, bắt dân các huyện xung quanh Thăng Long và lính năm phủ ngày ngày lao động thổ mộc trên 5 năm. Năm 1514, Tương Dực còn bắt dân đắp thêm vòng thành ra ngoài sông Tô Lịch, bao bọc cung điện Tường Quanh và xây dựng chùa Kim Cổ Thiên Hoa. Một sứ giả nhà Minh sang nước ta vào thời kỳ này đã mô tả Tương Dực 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rằng: vua mặt đẹp mà thân cong, tướng hiếu dân như tướng lợn, loạn vong không còn lâu nữa.
Với thói ăn chơi, sa đọa không màng đến triều chính để nhân dân lầm than Tương Dực đã được ví như “Vua lợn”. Vào thời Lê Thánh Tông nhà nước Lê Sơ được hoàn chỉnh, tạo ra một cơ chế quan liêu hành chính khá nặng nề. Triều đình dưới thời Lê Thánh Tông cố gắng ngăn giảm khuynh hướng quý tộc hóa và xây dựng chế độ quan liêu hành chính. Mặc dù bộ máy hành chính cồng kềnh phức tạp nhưng đã góp phần ổn định xã hội.
Tuy nhiên, đến thế kỷ XVI, nhà nước này không đủ sức khắc phục những mâu thuẫn về kinh tế, xã hội sản sinh về sau. Ngược lại, chính sự cồng kềnh đó đã làm cho mâu thuẫn càng trở nên gay gắt, đè nặng lên cuộc sống nhân dân. Nhà nước đối lập với xã hội, với lợi ích nhân dân đó là nguyên nhân dẫn đến các cuộc khởi nghĩa nông dân. Mặt khác, sự hòa hiệp của văn thần, võ tướng, nho sĩ và chỉ huy quân đội là con cháu các công thần khai quốc nay đã bị rạn nứt sâu sắc.
Năm 1510, trộm cướp nổi dậy, giặc giã chớm nở, đó là nguyên nhân để các cuộc khởi nghĩa nhân dân nổi dậy. Lúc bấy giờ, một số quan lại cấp dưới và sĩ phu bất mãn, cũng đứng về phía nông dân chống đối lại chính quyền. Phong trào khởi nghĩa nông dân diễn ra khá rầm rộ trong hơn mười năm, cuối cùng cũng bị thất bại. Mặc dù bị thất bại nhưng nó cũng góp phần làm nhà nước Lê Sơ thêm suy yếu và là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của nhà nước Lê Sơ.
Trước tình hình triều đình lục đục, nội bộ rối ren, Mạc Đăng Dung, một võ quan đã lợi dụng cơ hội để lên giữ chức tể tướng. Từ năm 1516 đến năm 1519, Mạc Đăng Dung dưới danh nghĩa phù Lê Chiêu Tông đã tiêu diệt các phái đối lập là Trịnh Tuy và Nguyễn Hằng Dụ. Năm 1519, Mạc Đăng Dung được phong tước Minh Quận Công, mấy năm sau ông được phong tước Nhân 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quốc Công. Vừa tập trung đàn áp khởi nghĩa Trần Cảo và mặt khác Dung đưa họ hàng vào nắm các chức vụ chủ chốt ở triều đình và các trấn.
Trước nguy cơ bị nhà Mạc lật đổ, vua Chiêu Tông và một số triều thần định trốn khỏi kinh thành mộ quân đánh lại Mạc Đăng Dung. Thấy tình thế bất ổn Đăng Dung lập hoàng đệ Xuân thay thế, rồi đưa về Hải Dương. Năm 1526, Đăng Dung giết Chiêu Tông và 1 năm sau (năm 1527) Mạc Đăng Dung bắt hoàng đệ Xuân nhường ngôi cho mình. Nhà Lê Sơ tồn tại vừa 100 năm thì nhà Mạc thay thế.
Khi Mạc Đăng Dung lên nắm quyền lực thay thế nhà Lê Sơ đã gây phản ứng dữ dội cho một số con cháu công thần và một số sĩ phu khoa bảng thời bấy giờ như Nguyễn Thái Bạt, Lê Tuấn Mậu,…Nhà Mạc phải chống lại những cuộc khởi binh của con cháu các công thần nhà Lê Sơ và sự mắng chửi của các sĩ phu khoa bảng. Đây là phản ứng của những sĩ phu Nho giáo theo kiểu “trung thần bất sự nhị quân” mang dáng dấp của một nhân cách “sĩ khí anh hùng” của thế kỷ trước còn lại, cũng là phản ứng chung của sự hoài niệm nhà Lê còn sâu sắc. Nhà Mạc tồn tại trong thế chênh vênh, triều đình non yếu, bên ngoài bị bè phái giặc Minh nhòm ngó. Vì vậy, Mạc Đăng Dung và các vị vua kế vị phải tìm cách hòa hoãn với nhà Minh bằng cách cắt mấy xã biên giới thuộc Yên Quảng cho Trung Quốc.
Mặt khác, tìm cách đối phó với các cựu thần nhà Lê và ra sức xây dựng chính quyền, ổn định trật tự xã hội. Để củng cố bộ máy chính quyền nhà Mạc đã tổ chức mở nhiều khoa thi Nho học để tạo ra một tầng lớp sĩ phu mới làm chỗ dựa. Tổ chức nhà nước của nhà Mạc nhìn chung vẫn xây dựng dựa theo mẫu hình nhà Lê Sơ, là bộ máy quan liêu hành chính quản lý xã hội. Mạc Đăng Dung vừa lên ngôi thì ngay sau đó một tập đoàn phong kiến khác lấy danh nghĩa là “Phù Lê diệt Mạc” tập hợp lực lượng nổi dậy ở Thanh Hóa, thành lập triều đình mới gọi tên là Lê Trung Hưng, với mong muốn 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giành lại chính quyền cho nhà Lê từ tay nhà Mạc.
Do đó, Đại Việt lúc bấy giờ xảy ra cuộc xung đột giữa các phe phái phong kiến, đất nước lâm vào cảnh chiến tranh. Chính quyền họ Mạc thống trị vùng Bắc Bộ ngày nay gọi là “Bắc Triều”, chính quyền họ Trịnh dưới danh nghĩa phù Lê quản lý vùng đất Thanh Hóa trở vào gọi là “Nam Triều”. Từ năm 1546-1592, có 38 chiến dịch lớn nhỏ xảy ra giữa Lê – Trịnh và Mạc. Năm 1592, Nam triều thắng Bắc triều, chiếm được kinh thành Thăng Long.
Con cháu nhà Mạc chạy lên Cao Bằng, chấm dứt tình trạng phân chia Nam triều, Bắc triều. Có thể thấy khởi nghĩa xảy ra liên miên, nạn nhân của chúng là nhân dân lầm than. Cả Bắc triều và Nam triều đều bị thiệt hại nặng nề về người và của cải vật chất, kéo theo đó sản xuất bị sa sút, kinh tế kém phát triển. Đất nước phân chia Nam – Bắc triều vừa chấm dứt thì lại xảy ra chiến tranh Trịnh – Nguyễn.
Năm 1558, Nguyễn Hoàng muốn thoát khỏi sự chèn ép của Trịnh Kiểm đã xin vào chấn thủ ở Thuận Hóa và kiêm trấn thủ Quảng Nam (1570). Nguyễn Hoàng và con cháu kế vị muốn xây dựng Thuận Quảng là vùng đất riêng biệt. Sự phân chia này đưa đến chiến tranh Trịnh – Nguyễn. Từ năm 1627 đến năm 1672 có 7 lần đánh nhau, có lần kéo dài từ năm này qua năm khác.
Các vùng Nghệ An, Bố Chính (nay là Quảng Bình) luôn là chiến trường. Cuối cùng hai tập đoàn phong kiến Trịnh, Nguyễn không thôn tính được nhau, phải đình chiến. Sông Giang là giới tuyến, phía Bắc thuộc họ Trịnh gọi là Đàng Ngoài hay Bắc Hà, phía nam thuộc họ Nguyễn gọi là Đàng Trong hay Nam Hà. Đàng Ngoài, chính quyền Lê Trung Hưng thực chất là của họ Trịnh, nhà Lê “hữu danh vô thực”, phủ chúa nắm hết thực quyền.
Tình hình này kéo dài đến hết thế kỷ XVIII. Sự đứt gãy của các chính quyền phong kiến và sự phân chia phạm vi thống trị của các tập đoàn Mạc, Trịnh, Nguyễn là nét nổi bật trong tình hình 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chính trị thế kỷ XVI - XVIII. Các nhà nước phong kiến Đàng Ngoài và Đàng Trong theo mô hình cũ từ thời Lê Sơ, trên căn bản là kiểu nhà nước phong kiến quan liêu hành chính ngày càng nặng nề phức tạp, duy trì ở mức độ nhất định tính địa phương, đặc biệt là ở Đàng Trong. Cuối thời Lê Mạt, các nhà nước đó thành trợ lực cho sự phát triển xã hội.
Trong khi các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền vị, đất nước phân chia, nhân dân bị tổn hại nhiều về sức lực và của cải trong chiến tranh, tuy nhiên vẫn không ngừng lao động cần cù, tạo dựng cuộc sống. Kinh tế đất nước XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII phát triển ở mức độ nhất định. Đàng Ngoài, nhiều vùng đất đai khai hoang được mở rộng, xóm làng mọc lên. Những vùng không có chiến tranh, sản xuất nông nghiệp ổn định.
Đối với các vùng ven biển Hải Dương, Sơn Nam, Thanh Hóa, mặc dù thuộc khu vực chịu ảnh hưởng của chiến tranh nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn phát triển trong một số giai đoạn nhất định. Đàng Trong, người dân khẩn khoang thường xuyên, mở rộng vùng Thuận Hóa, Quảng Nam và đưa khu vực này trở thành khu vực kinh tế phát triển. Vùng đất Ô Châu thời Dương Văn An, cuối thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVII làng xóm chen nhau, đồng ruộng trải đều đến ven biển. Cuối thế kỷ XVII, lưu dân người Việt Nam đã vào khai thác vùng Đồng Nai.
Từ địa bàn này người Việt tỏa ta khắp nơi đến Mỹ Tho, Long Hồ. Vào thế kỷ XVIII, họ đã đến khu vực Hà Tiên, Rạch Giá (Kiên Giang). Trên vùng đất Đàng Trong, ngoài người Việt sinh sống còn có người Hoa, đây là một bộ phận cư dân đáng kể, đến khai thác. Họ nhập cư vào Hội An, Đông Phố, Mỹ Tho và Hà Tiên.