Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG TẬP THỂ SƯ PHẠM THEO HƯỚNG TỔ CHỨC HỌC TẬP TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Thế kỉ XXI là thế kỉ của hội nhập, khoa học và công nghệ, trong bối cảnh cạnh tranh diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và trên phạm vi toàn cầu, tất cả các tổ chức thuộc mọi loại hình đều phải học tập không chỉ để tồn tại mà còn để phát triển mạnh mẽ. Khả năng của tổ chức trong việc học tập và cải tiến nhanh hơn có thể là lợi thể rất lớn trong tồn tại và phát triển.
Chính vì vậy, xây dựng tổ chức biết tập được xem là một cách tiếp cận, một lí thuyết hiệu quả trong khoa học quản lí tổ chức hiện đại. Một tổ chức mạnh là tổ chức tạo được nền văn hoá của nó gồm những giá trị cơ bản, ý thức trách nhiệm của tất cả các thành viên trong tổ chức, một không khí tâm lý thúc đẩy mọi người phấn đấu, góp phần tích cực cho quá trình đổi mới và phát triển của tổ chức. Một tổ chức có văn hóa mạnh sẽ là nền tảng để xây dựng tổ chức học tập. Trong lý luận quản lý và tổ chức hiện đại, “tổ chức học tập” được xem là một triết lý, một thái độ, một cách tiếp cận mới đối với thực tiễn xây dựng và quản lý tổ chức.
Một “tổ chức biết học hỏi” (Organization Learning) được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, nhưng về cơ bản, có thể thống nhất với định nghĩa sau: “Tổ chức biết học hỏi là tổ chức trong đó mọi thành viên được huy động, lôi cuốn vào việc tìm kiếm, phát hiện và giải quyết vấn đề, vào việc làm cho tổ chức có khả năng thực nghiệm cách làm mới, để biến đổi, phát triển và cải tiến liên tục nhằm đẩy nhanh khả năng tăng trưởng của tổ chức, khiến tổ chức có thể đạt được mục tiêu của mình một cách tốt đẹp nhất”. Tư tưởng cơ bản của “tổ chức biết học hỏi” là “giải quyết vấn đề” thay vì các tổ chức truyền thống được thiết kế nhằm thực hiện một sứ mệnh định sẵn. Learning Organization (Tố chức học tập) là thuật ngữ được dùng cho một doanh nghiệp tạo điều kiện cho việc học tập của nhân viên, nhằm mục đích giúp doanh nghiệp có thể tự biến đồi liên tục. Tổ chức học tập phát triển là kết quả tất yếu của những áp lực mà doanh nghiệp đang phải đối mặt đế duy trì tính cạnh tranh trong môi trường kinh doanh hiện nay.
Khái niệm tổ chức học tập lần đầu tiên được đặt ra trong nghiên cứu của Peter Senge và các đồng nghiệp. Tố chức học tập khuyến khích một cách suy nghĩ liên kết với nhau hơn, làm cho môi trường làm việc như một cộng đồng mà mọi thành viên đều cam kết với công việc. Đây là động lực khiến con người làm việc chăm chỉ và hiệu quả hơn 6 Định nghĩa của Peter Senge về một tổ chức học tập là “Các tổ chức, nơi mọi người liên tục mở rộng khả năng của họ để tạo ra kết quả mà họ thực sự khao khát, nơi các kiểu tư duy mới và mở rộng được nuôi dưỡng, nơi mà khát vọng tập thể được giải phóng, và tất cả mọi người không ngừng cùng nhau học hỏi.” Tổ chức học tập đôi khi được ca ngợi là “phương thuốc chữa bách bệnh" cho mọi sự thành công. Khái niệm về tổ chức học tập ngày càng gắn liền với sự phức tạp và khó khăn của mọi môi trường, bởi vì theo Senge: “Tỷ lệ mà các tổ chức học hỏi có thể trở thành nguồn lợi thế cạnh tranh bền vững duy nhất” Trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu về khái niệm tổ chức học tập (TCHT) như: - Peter Senge - What's Next in Organizational Learning? - Martin Schulz - Organizational Learning - Mark K.Smith 2001 - Peter Senge and the learning organization - Senge, P., Charlotte Roberts, Rick Ross, George Roth, Bryan Smith, and Art Kleiner (1999) - What is Organizational Leaning? C.
Mác cũng đã từng khẳng định: “Chỉ trong tập thể, mỗi cá nhân mới có được phương tiện giúp cho cá nhân đó có khả năng phát triển toàn diện những tư chất cùa mình, và khi đó, chỉ trong tập thể mới có tự do cá nhân”, “Nhờ đó, mỗi người sẽ là một nhân cách độc đáo, sáng tạo, phong phú và cũng nhờ đó tập thể trở nên phong phú, đa dạng” Một tổ chức học tập được phát triển thông qua: + Các nhà lãnh đạo mô hình tính toán rủi ro và kinh nghiệm đề cập + Ra quyết định phi tập trung và nhân viên trao quyền + Kiểm kê kỹ năng để chia sẻ việc học và sử dụng nó + Phần thưởng và cấu trúc cho các sáng kiến của nhân viên + Cân nhắc về hậu quả và tác động lâu dài về công việc của người khác + Thường xuyên sử dụng chức năng chéo hàng ngày + Cơ hội học hỏi kinh nghiệm hàng ngày + Văn hóa phản hồi và diễn ngôn 1. Ở Việt Nam Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã từng chỉ rõ: Phải xây dựng một nhà trường sao cho “trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò”, “Đối với các em học sinh, điều quan trọng nhất là nhà trường, thầy giáo, cô giáo phải cố gắng hết sức và bằng mọi biện pháp tạo nên một môi trường vui vẻ, thoải mái, lành mạnh, hấp dẫn và có thể nói là vừa học vừa chơi, vừa chơi vừa học, phù hợp với sinh lý, tâm lý các em, đem lại cho các em những hứng thú trong học tập. Môi trường này là tiền đề, điều kiện cho các em thích học, ham học, học mau hiểu, dễ nhớ. Đây là điều chúng ta cần, cha mẹ các em cần, đất nước và dân tộc cần, hiện tại và tương lai cần.” Điều đó càng nhấn mạnh tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của vấn đề xây dựng 7 tập thể sư phạm chất lượng đối với sự phát triển của sự nghiệp giáo dục.
Nhóm, tập thể là một trong những vấn đề nghiên cứu quan trọng và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vục khoa học nhân văn khác nhau, đặc biệt là các nhà tâm lý học của nhiều trường phái tâm lý học. Nhìn chung rất nhiều tác giả, nhà nghiên cứu đã đề cập đến các vấn đề nhóm - tập thể, xây dựng tập thể và xác định đây là một trong những vấn đề quan trọng trong công tác quản lý. Tuy nhiên nghiên cứu về tập thể sư phạm và xây dựng tập thể sư phạm trong nhà trường thì còn quá ít ỏi, đây là một hướng đi quan trọng cần đuợc khai thác nhiều hơn trong thực tiễn. Trong thời gian gần đây, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề TCBHH như: - Nguyễn Anh Thư, Phát triển tổ chức biết học ở Việt Nam – tất yếu và thách thức.
- Nguyễn Anh Thư, Tổ chức biết học – Một đặc trưng của những tổ chức mới. - Nguyễn Thị Hoàng Anh, Vận dụng lý thuyết “Tổ chức biết học hỏi” vào quản lý sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ. - Nguyễn Ngọc Trâm, Xây dựng tập thể sư phạm thành tổ chức biết học hỏi ở tr- ường Trung học phổ thông Bán công Nguyễn Thái Học thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tuy nhiên, có rất ít tác giả quan tâm đi sâu vào nghiên cứu về lý luận một cách có hệ thống về việc xây dựng trường học thành TCBHH, nhất là chưa đề cập đến công tác xây dựng trường cao đẳng thành TCBHH.
Gần đây nhất tác giả Dương Đức Tân với đề tài “Những biện pháp quản lý của hiệu trướng đối với việc xậy dựng tập thề Sư phạm tích cực ở các trường trung học phổ thông tinh Quảng Ngãi" đã bước đầu xây dựng được một số biện pháp có tính khả thi cho các trường phổ thông không chỉ của tỉnh Quảng Ngãi mà còn nhiều tỉnh thành trong cả nước trong việc xây dựng tập thể sư phạm. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý giáo dục a. Mác đã từng khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất.
Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. Lao động chung cần có tổ chức và thống nhất nhằm tạo ra sức mạnh để đạt được mục đích chung. Trong lịch sử phát triển loài người xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức - điều khiển con người với các hoạt động theo những yêu cầu nhất định; dạng lao động đó được gọi là quản lý. Quản lý là một chức năng lao động bắt nguồn từ tính chất lao động của xã hội.
Từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ 8 không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì nhu cầu quản lý cũng hình thành như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung. Xã hội phát triển qua các phương thức sản xuất từ cộng sản nguyên thủy đến nền văn minh hiện đại, trong đó quản lý luôn là một thuộc tính tất yếu lịch sử khách quan gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó. Thuộc tính đó bắt nguồn từ bản chất của hệ thống xã hội đó là hoạt động lao động tập thể - lao động xã hội của con người. Trong quá trình lao động con người buộc phải liên kết lại với nhau, kết hợp lại thành tập thể.
Điều đó đòi hỏi phải có sự tổ chức, phải có sự phân công và hợp tác trong lao động, phải có sự quản lý. Như vậy, quản lý là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt được mục tiêu chung đề ra. Quản lý là một khái niệm rất rộng, có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, ví dụ như: - Mary Parker Follet: "Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác". - Robert Albanese: "Quản lý là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi để đạt được mục tiêu của tổ chức".