CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC GIÁO DỤC TIỂU HỌC 1. Quan niệm tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học 1. Quan niệm viên chức và viên chức giáo dục tiểu học Từ trước đến nay đã có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm viên chức. Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhóm việt ngữ: “Viên chức là một từ Hán - Việt, theo nguyên nghĩa của từ này, thì viên là người giữ một chức vụ, chức là các việc về phần mình, viên chức là người giữ một chức nghiệp nhất định, thường là trong bộ máy chính quyền” [8].
Theo từ điển Hán - Việtcủa Đào Duy Anh, thì viên chức là “người làm việc ở công thự, ở học hiệu hoặc ở các cơ quan công thương” [1]. Ở Việt Nam, một thời gian dài, chúng ta quan niệm khái niệm “cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước” được dùng để chỉ tất cả những người làm việc trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các nông, lâm, trường quốc doanh. Khái niệm về viên chức dần được hình thành và bước đầu có sự phân biệt với các đối tượng khác kể từ khi Pháp lệnh cán bộ công chức 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2003). Tuy nhiên, sự phân định vẫn chưa làm rõ được thuật ngữ “công chức”, “viên chức” nên những vấn đề liên quan đến cơ chế quản lý, tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, tiền lương, chính sách đãi ngộ… phù hợp với tính chất hoạt động đối với từng đối tượng chưa được giải quyết triệt để.
Khái niệm viên chức chỉ thực sự được làm rõ và quy định chi tiết trong Luật Viên chức được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 15/11/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012 ( sửa đổi, bổ sung năm 2019) cụ thể: “Viên chức là 9 công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Theo định nghĩa nêu trên, viên chức là công dân Việt Nam tức là người có quốc tịch Việt Nam; Làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập; Có trình độ chuyên môn, năng lực phù hợp với vị trí việc làm. Như vậy một trong những điểm đặc thù của viên chức là làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Theo đó, "Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước; Tổ chức chính trị; Tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước".
Luật Viên chức cũng đã làm rõ khái niệm viên chức, phân biệt viên chức với cán bộ và công chức, xác định rõ các vấn đề chung nhất trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức: Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức; Các nguyên tắc quản lý viên chức phù hợp với thể chế chính trị của Việt Nam và tính chất, đặc điểm lao động của viên chức.Luật Viên chức đã làm rõ các khái niệm như vị trí việc làm, tuyển dụng, hợp đồng làm việc, đơn vị sự nghiệp công lập, quy tắc ứng xử,. đặc biệt là “chức danh nghềnghiệp” của viên chức để phân biệt với “ngạch” của cán bộ, công chức. Để làm rõ khái niệm viên chức giáo dục tiểu học, cần tìm hiểu về các thuật ngữ “giáo dục” và “giáo dục tiểu học”. Bất kỳ một xã hội nào muốn tồn tại và phát triển đều phải tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục liên tục đối với các thế hệ con người.
Giáo dục là nhu cầu tất yếu của xã hội loài người, một lịch sử khách quan không thể tách rời của lịch sử loài người. Những kinh nghiệm mà loài người tích lũy trong quá trình phát triển lịch sử được lưu giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhằm duy trì và phát triển xã hội loài người. Sự truyền thụ lại kiến thức đó được gọi là giáo dục. 10 Theo từ điển Tiếng Việt, "Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra”[8].TS Hà Thế Ngữ cho rằng: “Giáo dục được hiểu là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, được thực hiện bằng tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, cùng với sự tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất làm cho đối tượng dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra” [11].
Như vậy, có rất nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về giáo dục, trong khuôn khổ luận văn này, giáo dụcđược hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội, là hoạt động có mục đích, có định hướng, có tổ chức, có nội dung, yêu cầu nhằm đào tạo thế hệ trẻ thành lớp người kế tiếp lực lượng lao động mới có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ văn hóa, khoa học, kỹ thuật, có năng lực đảm đương và hoàn thành các nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong tương lai. Giáo dục là quá trình tiếp thu và biến đổi sức mạnh bản chất của con người được đối tượng hóa trong nền văn hóa - xã hội. Giáo dục tiểu học là quá trình trang bị kiến thức cơ bản, thông thường cần nhất cần có về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên…đối với mỗi con người. Tuy là kiến thức tiểu học nhưng nó lại bao gồm trong đó nhiều lĩnh vực, nhiều tổ hợp kiến thức khác nhau xuất hiện trong đời sống xã hội, do đó kiến thức tiểu học là một kho kiến thức vô cùng to lớn mà không ai có thể 11 nắm bắt được, nhất là trong giai đoạn hiện nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và hình thành tính cách, nền móng cho sự phát triển kiến thức về sau.
Giáo dục tiểu học (tiếng Anh: primary education, elementary education) là giai đoạn thứ nhất của giáo dục bắt buộc. Đây là bậc giáo dục cho trẻ em từ lớp một (5 hoặc 6 tuổi) tới hết lớp năm (hoặc lớp sáu, tùy theo các quốc gia). Đây là bậc học quan trọng đối với sự phát triển của trẻ em, thời gian hình thành nhân cách và năng lực (trí tuệ và thể chất). Ở Việt Nam, tiểu học là bậc học cao hơn mầm non và thấp hơn trung học cơ sở.
Trước đây ở miền Bắc (Việt Nam), tiểu học còn được gọi là phổ thông cơ sở cấp một. Theo Điều 26, Luật Giáo dục năm 2005: Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định những trường hợp có thể học trước tuổi đối với học sinh phát triển sớm về trí tuệ; học ở tuổi cao hơn tuổi quy định đối với học sinh ở những vùng có điều kiện KT-XH khó khăn, học sinh người dân tộc thiểu số, học sinh bị tàn tật, khuyết tật, học sinh kém phát triển về thể lực và trí tuệ, học sinh mồ côi không nơi nương tựa, học sinh trong diện hộ đói nghèo theo quy định của Nhà nước, học sinh ở nước ngoài về nước; những trường hợp học sinh học vượt lớp, học lưu ban; việc học tiếng Việt của trẻ em người dân tộc thiểu số trước khi vào học lớp một. Theo Điều lệ trường tiểu học năm 2010: Trường tiểu học là cơ sở giáo dục đầu tiên trong hệ thống giáo dục phổ thông, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng.
Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi. Ở tuổi này các em rất hiếu động, tò mò, tư duy và suy nghĩ còn mang tính cụ thể, trực quan, thích khen hơn chê trong các hoạt động. Kinh nghiệm còn hạn 12 chế.
Các em rất hồn nhiên, trong sáng. Các em tin gần như tin tuyệt đối vào thầy cô, hoạt động chủ đạo là hoạt động học tập. Theo Điều lệ trường tiểu học năm 2010: Trường tiểu học là cơ sở giáo dục đầu tiên trong hệ thống giáo dục phổ thông, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng. Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm.
Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi. Ở tuổi này các em rất hiếu động, tò mò, tư duy và suy nghĩ còn mang tính cụ thể, trực quan, thích khen hơn chê trong các hoạt động. Kinh nghiệm còn hạn chế. Các em rất hồn nhiên, trong sáng.
Các em tin gần như tin tuyệt đối vào thầy cô, hoạt động chủ đạo là hoạt động học tập [28]. Như vậy từ sự phân tích trên có thể hiểu viên chức giáo dục tiểu học là: Là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập cụ thể là các trường tiểu học theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của trường tiểu học theo quy định của pháp luật. Như vậy viên chức tiểu học theo quy định pháp luật bao gồm đội ngũ giáo viên tiểu học, cán bộ quản lý trưởng, viên chức hành chính. Trong đó lực lượng chủ chốt là giáo viên tiểu học (trong nội dung luận văn chủ yếu bàn về tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý giáo viên tiểu học và cán bộ quản lý trường).
Viên chức tiểu học là một trong những lực lượng quan trọng trong các trường học là người đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Do đó, việc quản lý, phát triển đội ngũ viên chức tiểu học để đảm bảo đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức là cần thiết. Quan niệm quản lý viên chức giáo dục tiểu học Thuật ngữ “quản lý” là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau.