CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Ở nước ngoài, khái niệm “Văn hóa tổ chức” xuất hiện lần đầu tiên trên báo chí Mỹ vào khoảng thập niên 1960 và chính thức trở thành khái niệm trong Khoa học tổ chức- Quản lý, xuất hiện ở Âu Mỹ từ những năm 80 của thế kỷ XX, hiện nay là một khái niệm thịnh hành và phổ biến rộng rãi. Thuật ngữ tương đương “Văn hóa công ty” (corporate culture) xuất hiện muộn hơn, khoảng thập niên 1970 và trở nên hết sức phổ biến khi tác phẩm “Văn hóa công ty” của Terrence Deal và Atlan Kennedy được xuất bản tại Mỹ năm 1982 [29]. Thuật ngữ “Văn hóa nhà trường” là một khái niệm mới xuất hiện trong nhiều chục năm gần đây.
Nội dung của “Văn hóa học đường” bao hàm nội dung của “Trường học thân thiện” do Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) đề xướng từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XX [9]. Nghiên cứu của GS. Peter Smith trường Đại học Sunderlands, Anh quốc đã khẳng định văn hóa nhà trường có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với chất lượng cuộc sống và hiệu quả hoạt động của nhà trường. Ở Việt Nam, trong những năm qua, văn hóa nhà trường đã chịu những tác động rất lớn từ môi trường văn hoá - xã hội theo xu thế phát triển của kinh tế thị trường và toàn cầu hoá.
Vấn đề quan hệ giữa văn hóa và giáo dục, vấn đề giáo dục giá trị để xây dựng văn hóa nhà trường đã được tác giả Phạm Minh Hạc nghiên cứu và làm rõ. Nhiều nghiên cứu khác đã làm rõ các biểu hiện của văn hóa nhà trường qua mối quan hệ, trang phục, ngôn ngữ giao tiếp, cư xử của học sinh với giáo viên, Hiệu trưởng với giáo viên và qua các hoạt động giáo dục của nhà trường như văn hóa dạy, văn hóa học, văn hóa đọc. Khi nghiên cứu văn hóa nhà trường, đã có tác giả chọn cách tiếp cận văn hóa tổ chức, trên cơ sở làm rõ khái niệm này, chỉ ra cấu trúc, biểu hiện của nó trong nhà trường đã coi văn hóa tổ chức là hình thái cốt lõi 6 của văn hóa nhà trường. Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này cũng mới xuất hiện và chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều [23] [29].
Trong bối cảnh phát triển nhà trường nước ta hiện nay, văn hóa tổ chức của nhà trường cần được định hướng thế nào để thực sự phát huy ảnh hưởng tích cực của nó đến mọi thành viên trong tổ chức nhà trường - đặc biệt là thế hệ trẻ đang trưởng thành - là câu hỏi cần phải sớm được làm sáng tỏ trên những cách tiếp cận khoa học. Bởi lẽ, nhà trường là một tổ chức nên văn hóa nhà trường trước hết là văn hóa của một tổ chức hành chính - sư phạm. Tuy nhiên cho đến nay, lại có rất ít tác giả quan tâm đi sâu vào nghiên cứu về lý luận một cách có hệ thống về hoạt động xây dựng văn hóa nhà trường. Một số luận văn thạc sĩ, bài báo, sách chuyên khảo, các chuyên đề…chủ yếu quan tâm đến hoạt động xây dựng văn hóa học nhà trường chung, văn hóa nhà trường ở trường nghề, văn hóa học đường ở các trường phổ thông, văn hóa học…có thể kể đến các tác giả sau: Tác giả Đỗ Huy đã nghiên cứu về “ Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay từ góc nhìn giá trị học”, trong đó có viết về môi trường gia đình và đưa ra các chuẩn mực cơ bản định hướng việc xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay.
Các tác giả Trần Thị Minh Hằng, Đỗ Tiến Sỹ, Lê Thị Loan, đã cùng xây dựng chuyên đề về VHNT: “Chuyên đề xây dựng và phát triển văn hóa nhà trường” và được sử dụng trong chương trình đào tạo Thạc sĩ của Học viện quản lý giáo dục. Tác giả Nguyễn Thị Hường cũng xây dựng: “ Chuyên đề xây dựng văn hóa nhà trường” và được giảng dạy trong Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội. Tác giả Phạm Quang Huân có bài báo viết về: Văn hóa tổ chức- hình thái cốt lõi của văn hóa nhà trường được đăng trên Kỉ yếu Hội thảo văn hóa học đường, Viện NCSP, Trường ĐHSPHN năm 2007. Học viện Quản lý giáo dục cũng có bài viết về xây dựng văn hóa nhà trường và được giảng trong chương trình bồi dưỡng hiệu trưởng trường phổ thông chương trình liên kết Việt Nam- Singapore, Hà Nội, 2008.
7 Nhìn chung những các đề tài khoa học ở trên đã đi vào nghiên cứu VH nói chung và VHNT nói riêng để thấy rõ đặc điểm và ảnh hưởng của công tác xây dựng VHNT đến chất lượng và hiệu quả giáo dục trong nhà trường. Tuy nhiên ở khía cạnh đưa ra những biện pháp cụ thể cho quá trình xây dựng VHNT tại các nhà trường Trung học cơ sở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình thì chưa được đề cập tới. Chính vì vậy Luận văn “Quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường Trung học cơ sở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình” tập trung đi sâu vào vấn đề xây dựng VHNT tại các trường Trung học cơ sở trên cơ sở kế thừa và phát triển những kết quả nghiên cứu trên với hi vọng làm sáng tỏ biện pháp quản lý xây dựng VHNT của cán bộ quản lý nhà trường Trung học cơ sở có hiệu quả. Mặt khác đưa ra những biện pháp cụ thể để xây dựng VHNT góp phần xây dựng một môi trường tích cực cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh trong nhà trường.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý nhà trường Quản lý là một trong vô số các hoạt động của con người, nhưng đó là một loại hình đặc biệt, là lao động siêu lao động, nghĩa là nó lấy các loại hình cụ thể làm đối tượng để tác động tới nhằm phối kết hợp chúng lại thành một hợp lực, từ đó tạo nên sức mạnh chung của một tổ chức. Vì vậy, quản lý vừa có những đặc điểm chung, có quan hệ hữu cơ với các hoạt động cụ thể khác, vừa có tính độc lập tương đối và mang những đặc trưng riêng của nó. James Stoner và Stephen Robbins cho rằng: “Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra” [Dẫn theo 26] Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động.
Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý… phải có người đứng đầu. Đây là hoạt động để người thủtrưởng phối hợp nỗ lực với các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra” [1],[2]. 8 Theo Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) tới đối tượng quản lý - trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Cũng theo đó các tác giả còn phân định rõ hơn về hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [5].
Hiện nay đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất khái niệm sau: “Quản lý là quá trình tác động có chủ định, hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tạo ra các hoạt động hướng tới đạt mục đích chung của tổ chức dưới sự tác động của môi trường” [26]. Như vậy, quản lý là một hệ thống bao gồm những nhân tố cơ bản: chủ thể quản lý; đối tượng quản lý; mục tiêu quản lý; công cụ, phương tiện quản lý; cách thức quản lý (có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình) và môi trường quản lý. Những nhân tố đó có quan hệ và tác động lẫn nhau để hình thành nên quy luật và tính quy luật quản lý. Trong hệ thống giáo dục, nhà trường chiếm giữ một phần quan trọng, chủ yếu.
Đa phần các hoạt động giáo dục đều được thực hiện trong nhà trường, thông qua hệ thống nhà trường (phổ thông, trung học chuyên nghiệp, phổ thông, đại học và sau đại học). Nhà trường là “tế bào chủ chốt” của hệ thống giáo dục từ Trung ương tới cơ sở. Theo đó quan niệm quản lý giáo dục (QLGD) luôn đi kèm với quan niệm quản lý nhà trường (QLNT). Các nội dung QLGD luôn gắn với QLNT.
QLNT có thể được coi là sự cụ thể hóa công tác QLGD. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giao dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục. Mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thể hệ trẻ và với từng học sinh” [9]. Tóm lại, QLNT là quá trình tác động của chủ thể quản lý nhà trường (Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng tổ chuyên môn) đến các đối tượng quản lý (giáo viên, học sinh, các quá trình dạy học và giáo dục) để đạt được mục tiêu giáo dục mà nhà trường đề ra.
Trong nội dung quản lý nhà trường thì quản lý xây dựng văn hóa là một nội dung quan trọng. Văn hóa, văn hóa nhà trường Văn hóa là từ Việt gốc Hán. Theo Kinh Dịch và trong những tài liệu cổ xưa thì văn có nghĩa là “ vẻ đẹp”, hóa có nghĩa là “thay đổi, biến đổi”, “làm cho thay đổi, biến đổi”, “giáo hóa”, văn hóa hiểu theo nghĩa gốc là “làm cho trở nên đẹp đẽ, văn vẻ”. Bản thân văn hóa rất đa dạng và phức tạp.
Do đó, khi có những tiếp cận nghiên cứu khác nhau sẽ dẫn đến có nhiều quan niệm về văn hóa, nhưng tựu chung lại, các nhà nghiên cứu đều có một nghĩa chung căn bản: VH là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con người, làm cho con người và cuộc sống con người trở nên tốt đẹp hơn. Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về văn hóa, văn hóa là sản phẩm do lao động của con người tạo ra, nó vô cùng phong phú, đa dạng. Cho đến nay, nhà nghiên cứu Phan Ngọc cho biết số lượng định nghĩa đã lên tới gần 400 định nghĩa.