CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÍ PHÁT TRIỂN THỊ TRẤN PHỐ LU, HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI 1. Cơ sở lý thuyết về công tác quản lý phát triển đô thị 1. Khái niệm về quản lý phát triển đô thị a) Khái niệm về đô thị Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế và văn hóa hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương bao gồm nội thành, ngoại thành của tỉnh, nội thị ngoại thị của thị xã, thị trấn .Ở Việt Nam đô thị gồm có 06 loại: Đô thị Đặc biệt, Đô thị loại I,II,III,IV,V và theo các tiêu chí cơ bản sau đây [9].
- Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đô thị; - Quy mô dân số; - Mật độ dân số; - Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; - Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng. [27] b) Khái niệm Quản lí Nhà nước về đô thị Quản lí Nhà nước về đô thị là hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước can thiệp vào trong các quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức khai thác và điều hòa việc sử dụng các nguồn lực (bao gồm các tài nguyên thiên nhiên, tài chính và con người) nhằm tạo dựng môi trường thuận lợi cho hình thức định cư ở đô thị, trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia và lợi ích đô thị để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Nhiệm vụ Quản lí Nhà nước ở đô thị bao gồm: xây dựng khuôn khổ pháp lý cho sự phát triển bao gồm các văn bản pháp quy, lập quy hoạch, kế hoạch thực hiện chương trình đầu tư phát triển, tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ trong quyền hạn và phạm vi Quản lí đảm bảo cho các hoạt động kinh tế xã hội trên địa bàn và kiểm soát sự phát triển về mục tiêu phát triển bền vững. Ba lĩnh vực chính của công tác Quản lí đô thị: 4 + Quản lí phát triển không gian đô thị.
+ Quản lí cung cấp dịch vụ đô thị ( kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội) + Quản lí trật tự, an toàn và công bằng xã hội ở đô thị. Nguyên tắc, mục tiêu và yêu cầu công tác quản lý đô thị a. Nguyên tắc Quản lí đô thị Các nguyên tắc Quản lí đô thị gồm có: - Hoạch định chiến lược phát triển đô thị hóa và hệ thống đô thị quốc gia và hệ thống đô thị các vùng. Trên cơ sở chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa … Nhà nước và chính quyền địa phương soạn thảo chiến lược hay định hướng phát triển hệ thống đô thị quốc gia và các vùng thông qua đồ án quy hoạch lãnh thổ và các đồ án quy hoạch vùng nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
Sau khi quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch vùng được Nhà nước và các cấp có thẩm quyền phê duyệt có giá trị pháp lý thực hiện và là cơ sở để xác lập luận chứng kinh tế kỹ thuật và các đồ án phát triển quy hoạch đô thị. - Thể chế hóa các quy định, quy chế và quy hoạch xây dựng, phát triển và Quản lí đô thị bằng các luật và các văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang pháp lý cho xây dựng và phát triển Quản lí đô thị. - Trên cơ sở quan điểm, mục tiêu định hướng phát triển cần phải được Chính phủ, cơ quan chuyên ngành Nhà nước cấp Trung ương và chính quyền địa phương soạn thảo văn bản và thể chế hóa thực hiện. - Xác lập quy hoạch xây dựng phát triển của các đô thị: trên cơ sở định hướng phát triển hệ thống đô thị quốc gia, của vùng và các quy định quy chế, chính sách tiêu chuẩn quy phạm … Chính phủ và chính quyền các địa phương xác lập quy hoạch xây dựng cho các đô thị thuộc thẩm quyền Quản lí, tạo cơ sở pháp lý để xây dựng phát triển và Quản lí tăng trưởng các đô thị.
- Xây dựng các chính sách huy động vốn đầu tư, khai thác nguồn vốn trong và ngoài nước, thành lập các quỹ đầu tư xây dựng phát triển và Quản lí đô thị. Ngoài vốn ngân sách và chính quyền địa phương xây dựng các chính sách tạo vốn, tạo nguồn thu để phát triển đô thị. Đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi, khuyến khích động viên các thành phần kinh tế cùng tham gia đầu tư xây dựng và phát triển đô thị theo phương châm lấy đô thị nuôi đô thị. 5 - Thực hiện Quản lí các lĩnh vực địa bàn và đối tượng gồm các tổ chức, cá nhân theo đúng pháp luật, quy hoạch và kế hoạch trên cơ sở kết hợp Quản lí ngành và Quản lí lãnh thổ với sự phân cấp, phân quyền và phối hợp với cơ quan Trung ương và địa phương theo thẩm quyền và trách nhiệm được giao.
- Thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm về xây dựng và Quản lí đô thị theo quy định của pháp luật. Bảo vệ kỷ cương trật tự an ninh, an toàn đô thị. Mục tiêu và yêu cầu công tác quản lý đô thị Mục tiêu cơ bản Quản lí Nhà nước về đô thị đó là làm thỏa mãn hài lòng những nhu cầu của con người về lao động, việc làm, nhà ở, cung cấp dịch vụ, nghỉ ngơi giải trí và giao tiếp trên cơ sở hài hòa, cân đối thống nhất và bền vững giữa các yêu cầu đòi hỏi của xã hội với các nhu cầu nguyện vọng, sở thích của cá nhân, tập thể. Đó là động lực chính để thúc đẩy sự phát triển đô thị và tiến bộ xã hội.
Cụ thể: - Xây dựng môi trường vật thể đô thị, gồm cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng, cảnh quan đô thị theo quy hoạch, kế hoạch và pháp luật. - Cung cấp cơ sở hạ tầng công cộng thiết yếu phục vụ cho các yêu cầu tăng trưởng kinh tế, đời sống xã hội và cân bằng sinh thái đô thị. - Đảm bảo cho các thị trường đô thị (nhà, đất, vốn, lao động …) hoạt động hữu hiệu. - Bảo vệ môi trường đô thị, an ninh, trật tự xã hội.
Trong Quản lí đô thị, chính quyền các cấp tùy theo quyền hạn, chức năng và nhiệm vụ được giao thường áp dụng các phương tiện như: cung cấp và duy trì cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, ngăn cấm và xử phạt các hành vi hoặc nguy cơ làm mất cân bằng giữa khả năng cung - cầu và tăng trưởng đô thị, khuyến khích các hoạt động mang lại lợi ích cho cộng đồng và tạo ra sự tăng trưởng đô thị, thông tin nắm vững tình hình phát triển đô thị để đề ra những quyết định đúng đắn trong phát triển đô thị Ngoài ra để tạo nguồn lực phát triển đô thị, chính quyền Nhà nước còn áp dụng đồng bộ những biện pháp như: xã hội hóa việc cung cấp phục vụ lợi ích công cộng, phân phối lưu thông, trả tiền khi sử dụng các dịch vụ hạ tầng công cộng, đất đai nhà xưởng … huy động các nguồn vốn thực hiện các dự án BOT, BT, BTT … tạo điều kiện để mọi thành phần kinh tế tham gia vào các chương trình phát triển đô thị. Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý phát triển đô thị a. Khái niệm sự tham gia của cộng đồng Khái niệm về tham gia: Tham gia được dịch thành 2 từ tham dự và tham gia. Tham dự là tham gia ở mức thấp, còn tham gia là tham dự ở mức cao.
Phương pháp luận tham gia là phương pháp luận đi từ dưới lên tức là đi từ người dân và trở thành khoa học. Ðịnh nghĩa “Sự tham gia của cộng đồng”, theo Clanrence Shubert là quá trình mà trong đó các nhóm dân cư của cộng đồng tác động vào quá trình quy hoạch, thực hiện, Quản lí sử dụng hay duy trì một dịch vụ, trang thiết bị hay phạm vi hoạt động. Các hoạt động cá nhân không có tổ chức sẽ không được coi là sự tham gia của cộng đồng. Sự tham gia của cộng đồng là một quá trình mà chính quyền và cộng đồng cùng nhận một số trách nhiệm cụ thể và tiến hành các hoạt động để cung cấp các dịch vụ đô thị cho tất cả cộng đồng.
Điều này đảm bảo cho những người chịu ảnh hưởng được tham gia vào việc quyết định dự án. Đây còn là cách tìm kiếm và huy động các nguồn lực của cộng đồng, nhằm tăng lợi ích cho cộng đồng dân cư, giảm các chi phí, tăng hiệu quả kinh tế và hiệu quả chính trị cho Nhà nước. Sự cần thiết tham gia của cộng đồng Sự tham gia của cộng đồng vào quá trình Quản lí phát triển đô thị là rất quan trọng vì người dân có quyền tham gia vào việc ra quyết định, vì kết quả của các quyết định đó sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống, lợi ích của họ. Sự tham gia của cộng đồng sẽ làm tăng sức mạnh người dân, làm tăng sự tự tin và khả năng để giải quyết các vấn đề khó khăn.
Sự tham gia của cộng đồng đảm bảo thu được những kết quả tốt hơn vì chính họ biết rõ họ cần gì, có khả năng gì và có thể dùng các nguồn lực của họ cho các hoạt động của cộng đồng. Sự tham gia của cộng đồng trong công tác phát triển đô thị là chức năng cao nhất, được thể hiện như là điều cam kết của người dân và làm tăng tính hiệu quả của phát triển đô thị. Vai trò tham gia của cộng đồng Cộng đồng là một hình thức đặc thù của tổ chức xã hội nhằm tập hợp sức mạnh vật chất và trí tuệ của con người để cùng bảo vệ, tồn tại, phát triển vì những mục tiêu và lợi ích chung nhằm không ngừng hoàn thiện, nâng cao đời sống của bản thân gắn với môi trường xã hội ngày càng tiến bộ. 7 Sức mạnh của cộng đồng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội.
Nếu có chính sách tốt, đúng đắn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội rất to lớn. Sự tham gia của cộng đồng trong công tác Quản lí xã hội sẽ đem lại một môi trường sống trong lành, bình đẳng, đoàn kết và bác ái cho mọi người. Tính cộng đồng là một quy luật tất yếu khách quan.