Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động TVTL cho HS tại các trƣờng THCS. Thực trạng quản lý hoạt động TVTL cho HS tại các trƣờng THCS huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Biện pháp quản lý hoạt động TVTL cho HS tại các trƣờng THCS huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƢ VẤN TÂM LÝ CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan của vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Nghiệp vụ tƣ vấn học đƣờng ra đời ở Mỹ vào những năm đầu của thế kỷ 20, từ công tác hƣớng nghiệp trong nhà trƣờng. Nội dung chƣơng trình gồm những bài học mô tả về nghề nghiệp, những hứng thú, những đặc điểm cần phát triển và những vấn đề về tƣ tƣởng và hành vi không thích hợp cần hạn chế đối với một số nghề nghiệp. Cuốn sách “Chọn nghề” (Choosing a Vocation) của Frank Parsons (1854-1908), ngƣời đƣợc coi là “cha đẻ của hƣớng nghiệp” là công trình nghiên cứu đánh dấu sự cống hiến lớn lao cho công tác tƣ vấn nghề.
Và cũng vào thời gian này Tham vấn tâm lý học đƣờng hay còn gọi là tƣ vấn học đƣờng, là một nhánh của ngành tham vấn tâm lý, cũng đƣợc xuất hiện tại Hoa Kỳ. Davis có thể đƣợc xem là một trong những ngƣời đầu tiên trong lĩnh vực này khi giới thiệu một chƣơng trình “Những hướng dẫn về nghề nghiệp và đạo đức” cho học sinh các trƣờng học công. Năm 1957, năm mà vệ tinh Sputnik của Nga đƣợc phóng vào quỹ đạo cũng là thời điểm mà ngành tham vấn và khải đạo đƣợc “phóng lên”. Tiếp theo đó, đạo luật Nat’l Defense Ed.
Act (NDEA) ra đời năm 1958. Đạo luật NDEA tập trung vào hai vấn đề: Cung cấp những nguồn lực để các bang thiết lập và duy trì các hoạt độngtham vấn, trắc nghiệm và khải đạo trong trƣờng học; Ủy quyền và cho phép các trƣờng cao đẳng và đại học thiết kế các chƣơng trình đào tạo tƣ vấn học đƣờng. Năm 1962, cuốn sách của Wrenn, Nhà tham vấn trong một thế giới thay đổi (TheCounselorina Changing World) đã định chế hóa các mục tiêu của tƣ vấn học đƣờng. Năm 1964, ASCA phát triển các vai trò và chức năng dành cho các nhà tƣ vấn học đƣờng[ 23].
Năm 1965, đạo luật Giáo dục Tiểu học và Trung học (Elementaryand Secondary Education Act) ra đời và cung cấp nguồn quỹ để phát triển những cơ hội giáo dục cho 7 những gia đình nghèo. Đến những năm 80 và 90, nhu cầu về việc làm rõ những đặc tính và vai trò của nhà tƣ vấn học đƣờng đƣợc xuất hiện với sự “chín muồi” của những vấn đề pháp lý liên quan. Năm 1997, Tiêu chuẩn quốc gia dành cho các chƣơng trình tƣ vấn học đƣờng ra đời và kể từ đó, ngành tƣ vấn học đƣờng đƣợc xem là đã hoàn thiện. Hiện nay, hiệp hội các nhà tƣ vấn học đƣờng Hoa Kỳ (ASCA) đƣợc xem là nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho các chƣơng trình tham vấn tâm lý học đƣờng của hầu hết các nƣớc trên thế giới.
ASCA hiện tại có hơn 23.000 hội viên trên toàn thế giới và là một phân hội của ACA với hơn 60.000 hội viên trên toàn thế giới[ 25]. Hiện nay các nghiên cứu về tƣ vấn tâm lý học đƣờng đƣợc triển khai theo các hƣớng nghiên những vấn đề tâm lý nảy sinh ở học sinh nhƣ các vấn đề về hành vi, xúc cảm, học tập; các chƣơng trình can thiệp, hỗ trợ học sinh; các mô hình cung cấp dịch vụ; các nhu cầu tƣ vấn của học sinh. Nghiên cứu về cách thức quản lý và mô hình quản lý hoạt động tƣ vấn tâm lý học đƣờng. Nghiên cứu về mô hình và cách thức quản lý hoạt động tƣ vấn tâm lý học đƣờng cũng có nhiều cách tiếp cận và hƣớng nghiên cứu cách thức vận hành và quản lý trong mỗi nhà trƣờng.
Các nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, tƣ vấn học đƣờng ban đầu đƣợc thực hiện với nội dung giáo dục hƣớng nghiệp trong nhà trƣờng. Năm 1975 - 1976, theo yêu cầu của Bộ Lao động Thƣơng binh Xã hội, ông Phạm Ngọc Luận và cộng sự tìm kiếm, vận dụng 12 bộ họa đồ nghề và tƣ vấn cho trên 300 thƣơng binh. Tháng 3/1991: Trung tâm Lao động - Hƣớng nghiệp đƣợc thành lập và cho ra đời cuốn tài liệu "Tƣ vấn nghề cho HS PT”, mở hai lớp tập huấn cho 200 cán bộ phụ trách tƣ vấn ở các trung tâm Kĩ thuật Tổng hợp - Hƣớng nghiệp trên cả nƣớc. Sau đó, một số công trình tiêu biểu về hƣớng nghiệp đƣợc ra đời nhƣ: Sinh hoạt hƣớng nghiệp 12 (1994), Sinh hoạt hƣớng nghiệp 11 (1996) của Hoàng Kiện, Nguyễn Thế Trƣờng, Phạm Tất Dong; Sự lựa chọn tương lai, Tư vấn hướng nghiệp (2000) của Phạm Tất Dong , tài liệu "Những nẻo đƣờng lập nghiệp" do Đặng Danh Ánh chủ biên (2003) giới thiệu một số ngành nghề nông - lâm - ngƣ nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và những gƣơng thành đạt về lập thân, lập nghiệp của các bạn trẻ, 8 Năm 2005, Khoa Tâm lý giáo dục trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội đã đƣa ra nghiên cứu cho rằng học sinh phổ thông có nhu cầu tƣ vấn rất lớn nhƣng lực lƣợng tƣ vấn chủ yếu là giáo viên, trong nhà trƣờng cần có các nhà tƣ vấn để giúp học sinh giải quyết những khó khăn về tâm lý.
Nghiên cứu cũng đề xuất cần có các phòng tƣ vấn trong các nhà trƣờng phổ thông. Năm 2009, tác giả Trần Thị Minh Đức đã xuất bản Giáo trình "Tham vấn tâm lý", trong đó xác định mối quan hệ giữa nhà tham vấn và thân chủ đƣợc xây dựng trên nền tảng của sự tôn trọng và tin tƣởng lẫn nhau, từ đó đƣa ra những quan điểm giúp ngƣời học có cách nhìn đúng đắn về thân chủ và các vấn đề của họ, cách nhìn chuyên nghiệp về nhà tham vấn với những năng lực và phẩm chất trong thực hành nghề; Giáo trình cũng hƣớng dẫn một số kỹ năng cơ bản, quy trình trong tham vấn và giới thiệu để ngƣời học thực hành giải quyết các tình huống cụ thể. Gần đây, có nhiều nghiên cứu khoa học về tƣ vấn tâm lý, nhất là tƣ vấn tâm lý cho HS trong nhà trƣờng phổ thông nhƣ: Tác giả Lê Sơn với bài "Nhiệm vụ của tƣ vấn học đƣờng" đăng trên Tạp chí Thông tin giáo dục (2018), trong đó chỉ rõ nhiệm vụ của tƣ vấn học đƣờng, phân loại tƣ vấn viên và nhiệm vụ của tƣ vấn viên trong nhà trƣờng, mô hình và hoạt động của phòng tƣ vấn tâm lý cho HS ; các công trình nghiên cứu tâm lý học đƣờng mục đích phục vụ HS, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, phát triển kỹ năng học tập và kỹ năng sống cho HS của nhóm nghiên cứu khoa học do tác giả Nguyễn Thị Tứ là chủ nhiệm. Có thể nhận thấy rằng, trên thế giới, hoạt động tƣ vấn đã đƣợc nghiên cứu và ứng dụng mang tính chuyên nghiệp qua một quá trình tƣơng đối lâu dài.
Ở Việt Nam, tƣ vấn cũng đƣợc quan tâm từ khá sớm. Tuy vậy, nhìn chung, chƣa có nhiều nghiên cứu về tƣ vấn tâm lý học đƣờng, trong đó đi sâu tìm hiểu đối với đối tƣợng HS THCS với những đặc điểm tâm lý khác biệt và những hoạt động mang tính đặc thù của lứa tuổi thiếu niên và của nhà trƣờng THCS, đề xuất các giải pháp giúp đỡ, hỗ trợ HS có khả năng ứng xử, giải quyết các tình huống, các mối quan hệ nói chung để tham gia quá trình học tập đƣợc thuận lợi và đạt kết quả, góp phần cải thiện môi trƣờng giáo dục, đem lại lợi ích thiết thực, nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện trong các nhà trƣờng. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý, Quản lý giáo dục 1.
Quản lý Khái niệm “Quản lý ” đƣợc nhiều nhà khoa học trình bày với những quan niệm khác nhau. Theo Từ điển Giáo dục học (2001) của NXB Từ điển Bách khoa “Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan” [27, tr. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc định nghĩa “ Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể Quản lý (người Quản lý) đến khách thể Quản lý (người bị Quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức đó vận hành và đạt mục đích của mình” [9, tr. Tác giả Trần Kiểm cho rằng “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể Quản lý lên đối tượng Quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan” [19, tr.
Tác giả Bùi Minh Hiền thì “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể Quản lý tới đối tượng Quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [14, tr. Tóm lại, Quản lý là sự tác động liên tục của chủ thể Quản lý tới khách thể và đối tƣợng Quản lý một cách có kế hoạch, có tổ chức, có phối hợp, có kiểm tra, đánh giá công việc nhằm đạt đƣợc những mục tiêu đã dự kiến. Quản lý giữ vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động xã hội. Quản lý giáo dục Khái niệm “Quản lý giáo dục” đƣợc nhiều nhà khoa học trình bày với những quan niệm khác nhau.
Tác giả Trần Kiểm định nghĩa Quản lý giáo dục (vi mô) đƣợc hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể Quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lƣợng xã hội trong và ngoài nhà trƣờng nhằm thực hiện có chất lƣợng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trƣờng [19, tr. 10 Theo tác giả Nguyễn Phúc Châu Quản lý giáo dục đƣợc hiểu là những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật,. của chủ thể Quản lý giáo dục các cấp đến tất cả các mắc xích của hệ thống giáo dục nhằm thực hiện có chất lƣợng và hiệu quả việc tổ chức, huy động, điều phối, giám sát và điều chỉnh,. các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin) để hệ thống giáo dục vận hành đạt đƣợc mục tiêu phát triển giáo dục) [8, tr.