phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng biểu và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý thuế thu nhập cá nhân. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.
Khái quát về thuế thu nhập cá nhân a. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nƣớc do luật pháp quy định đối với các pháp nhân và thể nhân thuộc đối tƣợng chịu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nƣớc. Bất kỳ quốc gia nào có nền kinh tế vẫn động theo cơ chế thị trƣờng đều coi thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách và công bằng xã hội. Thuế TNCN trên thế giới thông thƣờng đánh vào cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh.
Thuế này đƣợc coi là một loại thuế đặc biệt vì có lƣu ý đến hoàn cảnh của cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt. Theo Giáo trình Nghiệp vụ thuế (2009) của Học viện Tài chính thì Thuế TNCN đƣợc khái niệm nhƣ sau: “Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân trong một năm, từng tháng hoặc từng lần,không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập” [16]. Hay nói cách khác, Thuế thu nhập cá nhân là khoản tiền mà ngƣời có thu nhập phải trích nộp một phần tiền lƣơng, hoặc từ các nguồn thu nhập khác vào ngân sách Nhà nƣớc. Đây là nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi công dân góp phần cho sự phát triển phồn vinh của đất nƣớc.
Hiểu luật và chấp hành tốt các quy định của luật thuế là một trong những cách để tiết kiệm chi phí thuế cho chính mình một cách hữu hiệu. 10 Thuế thu nhập cá nhân động viên một phần thu nhập của cá nhân, thể hiện nghĩa vụ cụ thể của công dân đối với đất nƣớc. Công dân đƣợc hƣởng những thành quả của đất nƣớc nhƣ cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội, an ninh trật tự… thì đồng thời có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập của mình cho xã hội thông qua việc nộp thuế. Thuế thu nhập cá nhân đƣợc xây dựng trên nguyên tắc công bằng và khả năng nộp thuế: ngƣời có thu nhập thấp thì chƣa nộp thuế, ngƣời có thu nhập cao thì nộp thuế nhiều hơn, ngƣời có thu nhập nhƣ nhau nhƣng có hoàn cảnh khác nhau thì mức nộp thuế cũng khác nhau.
Thực hiện nộp thuế thu nhập cá nhân cũng góp phần làm giảm hợp lý khoảng cách chênh lệch giữa các tầng lớp dân cƣ. Thuế TNCN lần đầu tiên ra đời ở Anh (1841) sau đến Nhật (1887), Đức (1889), Mỹ (1913) và Mỹ trở thành quốc gia có tỷ suất thuế TNCN lớn nhất thế giới chiếm tới 35-60% tổng thu từ thuế vào ngân sách nhà nƣớc. Trung Quốc, thuế TNCN ra đời vào năm 1941 nhƣng đến năm 1955 mới trở thành một sắc thuế độc lập. Ở Pháp, thuế TNCN ra đời năm 1961, Liên Xô năm 1922, Hàn Quốc năm 1974 và cho đến nay theo thống kê đã có khoảng 180 nƣớc áp dụng thuế TNCN.
Tại Việt Nam, ngày 27/12/1990, Chủ tịch nƣớc đã ký lệnh công bố Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao và đƣợc uỷ ban Thƣờng vụ quốc hội thông qua, pháp lệnh có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4/1991. Để cho phù hợp với tình hình thực tế trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, từ năm 1991 đến năm 2004 đã có 06 lần sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao: Lần thứ nhất vào ngày 10/3/1992, lần thứ hai vào ngày 01/6/1994, lần thứ ba vào ngày 06/2/1997, lần thứ tƣ vào ngày 30/6/1999, lần thứ năm vào ngày 13/6/2001 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2001) và lần thứ 6 là pháp lệnh sửa đổi, bổ 11 sung số 14/2004/PL-UBTVQH11 ban hành năm 2004 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 đến 31/12/2008). Thông tƣ 81/2004/TT-BTC và thông tƣ số 12/2005/TT-BTC là những văn bản hƣớng dẫn thực hiện Pháp lệnh này. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu hội nhập và phát triển của đất nƣớc trong giai đoạn mới, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII đã thông qua Luật số 04/2007/QH12 – Luật thuế thu nhập cá nhân.
Luật này có hiệu lực thi hành chính thức từ ngày 01/01/2009; sau đó ban hành Luật sửa đổi bổ sung số 26/2012/QH13; Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Thuế thu nhập cá nhân chủ yếu đánh vào thu nhập của cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân vào ngân sách nhà nƣớc và có thể đƣợc sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi, thông qua việc thu hay không thu thuế đối với các khoản thu nhập từ kinh doanh, đầu tƣ, vv… b. Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân thuộc loại thuế trực thu nên đối tƣợng chịu thuế cũng đồng thời là đối tƣợng nộp thuế. Xác định đối tƣợng nộp thuế là một trong những nội dung quan trọng của thuế thu nhập cá nhân, từ đó mới có thể vận dụng cách tính thuế cho phù hợp.
Khi tiến hành xác định đối tƣợng nộp thuế, ngƣời ta thƣờng dựa vào hai tiêu thức là “nơi cƣ trú” và “nguồn phát sinh thu nhập”. Theo tiêu thức “nơi cƣ trú", một cá nhân đƣợc xác định là cƣ trú ở một nƣớc phải nộp thuế tại đó đối với mọi khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới, còn một cá nhân đƣợc xác định là không cƣ trú ở một nƣớc chỉ phải nộp thuế cho phần thu nhập phát sinh tại nƣớc đó. Theo tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” lại quy định: một cá nhân 12 phải nộp thuế thu nhập cá nhân ở một nƣớc đối với mọi khoản thu nhập của cá nhân phát sinh tại nƣớc đó. Trên cơ sở kế thừa, học hỏi, Luật thuế TNCN ở Việt Nam quy định, đối tƣợng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cƣ trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cƣ trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.
Trong đó, cá nhân cƣ trú là ngƣời đáp ứng một trong các điều kiện sau: - Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dƣơng lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam. - Có nơi ở thƣờng xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thƣờng trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn. - Cá nhân cƣ trú phải nộp thuế TNCN đối với tất cả các khoản thu nhập chịu thuế phát sinh bất kể trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam. Cá nhân không cƣ trú là ngƣời không đáp ứng những điều kiện của cá nhân cƣ trú nêu trên, họ chỉ phải nộp thuế TNCN đối với khoản thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.
[6] Trên cơ sở kế thừa, học hỏi, Luật thuế TNCN ở Việt Nam quy định, đối tƣợng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cƣ trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cƣ trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam. Trong đó, cá nhân cƣ trú là ngƣời đáp ứng một trong các điều kiện sau: - Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dƣơng lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam. - Có nơi ở thƣờng xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thƣờng trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn. - Cá nhân cƣ trú phải nộp thuế TNCN đối với tất cả các khoản thu nhập chịu thuế phát sinh bất kể trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam.
13 Cá nhân không cƣ trú là ngƣời không đáp ứng những điều kiện của cá nhân cƣ trú nêu trên, họ chỉ phải nộp thuế TNCN đối với khoản thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam. Đặ đ ểm của thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân có những đặc điểm sau: - Thuế thu nhập cá nhân là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo luật định. Phân phối khoản thu nhập qua thuế thu nhập cá nhân gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nƣớc. - Thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu.
Do vậy, ngƣời nộp thuế cũng là ngƣời chịu thuế. - Thuế thu nhập cá nhân có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nƣớc sở tại và ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú thƣờng xuyên hay không thƣờng xuyên tại nƣớc đó và hầu nhƣ tất cả số thu nhập có đƣợc của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nƣớc hay ngoài nƣớc. - Thuế thu nhập cá nhân là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho ngƣời nộp. Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà ngƣời nộp thuế phải trả cho Nhà nƣớc do đƣợc hƣởng các dịch vụ Nhà nƣớc cung cấp.
- Thuế thu nhập cá nhân luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia. hầu hết các quốc gia đều gắn chính sách thuế thu nhập cá nhân với một số chính sách xã hội khác (nhƣ phúc lợi công cộng, chăm sóc sức khỏe…). - Việc đánh thuế thu nhập cá nhân thƣờng áp dụng theo nguyên tắc thuế suất lũy tiến từng phần. - Thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hoá, dịch vụ.
Thuế TNCN không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hoá, dịch vụ nên nó không tạo ra sự sai lệch giá cả hàng hoá dịch vụ. Chính vì vậy thuế TNCN tăng hay giảm không ảnh hƣởng đến cơ cấu kinh tế. Khái niệm quản lý thuế thu nhập cá nhân a.