Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế GTGT; Chương 2: Thực trạng Quản lý thu thuế GTGT tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế GTGT tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Tính đến nay đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề “Công tác quản lý thuế GTGT” cụ thể: Trƣơng Quốc Thắng (2008), “Tăng cường quản lý thu thuế Giá trị gia tăng và thuế Thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trƣờng đại học kinh tế Huế. Tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý thu thuế Giá trị gia tăng (GTGT). Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu thuế tại Chi cục Thuế huyện Quảng Trạch giai đoạn 2005-2008, chỉ ra đƣợc những tồn tại trong công tác quản lý thu thuế Giá trị gia tăng (GTGT) trên địa bàn huyện Quảng Trạch.
Từ đó tác giả đã đề xuất các giải pháp khả thi, nhằm tăng cƣờng quản lý thu thuế GTGT góp phần tăng nguồn thu ngân sách của huyện Quảng Trạch trong thời gian tới. Luan van 5 Luận văn thạc sỹ: “Tăng cường kiểm soát thuế GTGT tại các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng” của tác giả Phan Xuân Quang – 2008, luận văn đã hệ thống đƣợc những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ nói chung và kiểm soát thuế GTGT nói riêng tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP Đà Nẵng; luận văn cũng phản ánh và đánh giá thực trạng công tác kiểm soát thuế GTGT tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP Đà Nẵng. Tuy nhiên trong phần này tác giả chủ yếu nêu đƣợc những tồn tại và những vấn đề còn bất cập, chức năng giải quyết các thủ tục còn trùng lắp tại các Phòng trực thuộc Cục Thuế (mô hình quản lý cấp Cục thuế) nên không nêu lên đƣợc những tồn tại bất cập hiện tại so với các quy trình, quy định áp dụng tại các Chi cục Thuế quận, huyện trực thuộc Cục Thuế. Vì thực tế hiện nay đối với cấp Chi cục thì mô hình, cơ cấu tổ chức bộ máy khác nhau so với cấp Cục.
Các giải pháp mà tác giả đƣa ra mặc dù đã có ý tƣởng hoàn thiện cơ cấu tổ chức tại các phòng trực thuộc Cục Thuế, cũng nhƣ các giải pháp về tăng cƣờng công tác thanh tra, kiểm tra thuế GTGT đối với các doanh nhiệp từ khâu lập kế hoạch, xây dựng các tiêu chí đến công tác thanh tra, kiểm tra tại doanh nghiệp, chủ yêu dựa vào các quy trình hiện nay. Tuy nhiên hiện nay một số quy trình không còn phù hợp với thực tế, nếu thực hiện đầy đủ các bƣớc công việc theo quy trình thì tồn tại nhiều bất cập, mất nhiều thời gian và nguồn nhân lực. Trong khi đó số lƣợng biên chế không tăng. Luận văn thạc sỹ “Tăng cường kiểm soát thuế tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Thành Phố Đà Nẵng” của tác giả Trƣơng Công Khoái – 2008.
Luận văn đã trình bày đƣợc những lý luận chung về kiểm soát thuế và vai trò của kế toán đối với công tác quản lý thuế. Trong đó có trình bày lý luận về các sắc thuế nói chung và thuế GTGT nói riêng; qua luận văn cũng đã đánh giá đƣợc thực trạng công tác kiểm soát thuế nói chung và kiểm soát thuế GTGT nói riêng tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng. Tuy Luan van 6 nhiên trong phần này tác giả chỉ mới nêu đƣợc công tác rà soát các loại tờ khai thuế kê khai theo tháng, tờ khai thuế kê khai quý, và tờ khai kê khai năm tại cơ quan thuế và công tác kiểm tra tại doanh nghiệp và chủ yếu mang tính lý thuyết chƣa sát với thực tế trong công việc hiện nay. Luận văn thạc sỹ “Tăng cƣờng kiểm soát thuế GTGT tại Cục thuế tỉnh Bình Định của tác giả Lê Thị Hồng Lũy – 2012.
Luận văn đã làm rõ việc kiểm soát thuế giá trị GTGT ở các khâu trong quá trình thu thuế GTGT nhƣng các giải pháp đƣa ra chủ yếu bám theo các quy trình quản lý thuế, chƣa có những giải pháp mang tính thực tế. Về nhóm các giải pháp hoàn thiện công tác bộ máy, đẩy mạnh công tác tuyên truyền hỗ trợ ngƣời nộp thuế, công tác thanh tra, kiểm tra và phân tích các chỉ tiêu đánh giá; mặc dù tác giả đã có ý tƣởng hoàn thiện về trình độ cán bộ công chức thuế và công tác phân tích đánh giá các chỉ tiêu kê khai, tuy nhiên tác giả chƣa đề xuất đƣợc các giải pháp về bố trí sắp xếp lại các Phòng, Đội cho phù hợp với thực tế hiện nay và các chỉ tiêu phân tích chỉ mang nặng tính lý thuyết, vì các thao tác phân tích chỉ thực hiện thủ công chứ chƣa có chƣơng trình, hệ thống hỗ trợ từ máy tính nên mất nhiều thời gian và công sức, mặc khác số liệu kê khai của các doanh nghiệp không trung thực, chƣa xác đúng với thực tế và kế toán các doanh nghiệp đã kiểm tra, cân đối số liệu trƣớc khi lập các hồ sơ khai thuế, do vậy việc phân tích đơn thuần trên hô sơ khai thuế mà không kiểm tra xem xét các yếu tố có liên quan thì sẽ không mang lại hiệu quả cao. Sau khi nghiên cứu các luận văn nêu trên và đƣa ra những nhận xét ban đầu nhƣ trên, tác giả dựa trên những ƣu điểm và khắc phục những nhƣợc điểm của các luận văn trƣớc, ngoài ra trong quá trình thực hiện, tác giả cũng đã nghiên cứu và tham khảo thêm các thông tin từ các trang web Tổng cục Thuế và các Tạp chí Thuế Nhà nƣớc để làm rõ vấn đề về quản lý thuế GTGT với hy vọng góp phần vào công tác quản lý thuế GTGT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Luan van 7 CHƢƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT 1.
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ GTGT 1. Khái niệm, bản chất, chức năng của thuế a. Khái niệm Từ trƣớc đến nay, trên thế giới vẫn chƣa có sự thống nhất khái niệm về thuế. Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế đƣa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, do đó chƣa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này.Mác đã viết “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nƣớc”, Ăng ghen cũng đã viết “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho nhà nƣớc, đó là thuế ”[26].
Theo Benjamin Franklin, một trong những tác giả của bản tuyên ngôn độc lập nổi tiếng của nƣớc Mỹ đã đƣa ra một lời tuyên bố bất hủ trong lịch sử thuế khoá: “Trong cuộc sống không có gì tất yếu, ngoài cái chết và thuế” [2]. Ở nƣớc ta, đến nay cũng chƣa có một khái niệm thống nhất về thuế. Theo từ điển tiếng Việt – Trung tâm từ điển học (1998) thì thuế là khoản tiền hay hiện vật mà ngƣời dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp v. buộc phải nộp cho Nhà nƣớc theo mức quy định [26].
Theo một số tài liệu viết về thuế thì: Thuế là khoản đóng góp bắt buộc đƣợc Nhà nƣớc quy định để mọi ngƣời dân và các tổ chức kinh tế phải nộp cho Ngân sách Nhà nƣớc [12]. Hoặc thuế là hình thức động viên, phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân do các cá nhân và các tổ chức kinh tế nộp cho Nhà nƣớc hình thành các qũy tiền tệ tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc [12]. Luan van 8 Tuy các khái niệm về thuế của các nhà kinh tế có khác nhau nhƣng đều thống nhất ở quan điểm thuế gắn liền với Nhà nƣớc và đó là khoản đóng góp bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp. Từ việc phân tích những quan niệm về thuế có thể nhận thức chung về thuế nhƣ sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, các nhân cho Nhà nƣớc theo mức độ và thời hạn đƣợc pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc.
Dù trải qua nhiều giai đoạn và đƣợc nhận định trên nhiều giác độ khác nhau, nhƣng hiện nay một định nghĩa về thuế theo xu hƣớng cổ điển vẫn còn đang đƣợc áp dụng phổ biến nhƣ sau: Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng [12], [26]. Bản chất của thuế Bản chất của thuế đƣợc thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định tƣơng đối qua từng giai đoạn phát triển. Nghiên cứu về thuế, ngƣời ta nhận thấy thuế có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công cụ tài chính khác nhƣ sau: Thứ nhất: Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho Nhà nƣớc mang tính bắt buộc phi hình sự.
Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, nó phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của ngân sách nhà nƣớc. Thứ hai: Thuế là một khoản đóng góp không mang tính chất hoàn trả trực tiếp. Nghĩa là khoản đóng góp của công dân bằng hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn đúng số lƣợng và khoản thu mà nhà nƣớc thu từ công dân đó, nhƣ là khoản vay mƣợn. Nó sẽ đƣợc hoàn trả lại cho ngƣời nộp thuế thông Luan van 9 qua cơ chế đầu tƣ của NSNN.
Thứ ba: Các khoản chuyển giao thu nhập dƣới hình thức thuế chỉ đƣợc giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của Nhà nƣớc đối với con ngƣời và tài sản [1]. Chức năng, vai trò của thuế * Huy động tập trung nguồn lực tài chính Ngay từ khi ra đời thuế luôn luôn có công dụng là phƣơng tiện huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nƣớc. Đây chính là vai trò truyền thống, căn bản của thuế. Ngƣời ta gọi công dụng này là chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế.
Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trƣng cho thuế ở tất cả các dạng Nhà nƣớc trong phát triển của xã hội.