CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm Thuế GTGT được một nhà kinh tế học người Pháp nghĩ ra năm 1954 và nó được áp dụng lần đầu từ ngày 10 tháng 4 năm 1954 đối với các doanh nghiệp lớn và dần mở rộng theo thời gian cho đến ngày nay thuế GTGT được 166 trên 193 quốc gia trên thế giới áp dụng.
Về cơ bản thuế GTGT là một dạng của thuế bán hàng. Tại Nhật Bản thì thuế GTGT được biết đến dưới tên gọi “thuế tiêu thụ”. Tại một số quốc gia như Australia, Canada, New Zealand, Singapore thì thuế này được gọi là “goods and services tax” nghĩa là thuế hàng hóa dịch vụ, thuế GTGT được tính toán dựa trên giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ qua mỗi khâu từ sản xuất đến lưu thông. Tại Anh, Thuế VAT được tính trên hầu hết các hàng hóa và dịch vụ được cũng cấp bởi các doanh nghiệp đăng ký tại Anh và một số hàng hóa dịch vụ được nhập khẩu từ bên ngoài Liên minh châu Âu Tại Việt Nam, trước khi thuật ngữ thuế GTGT xuất hiện thì nước ta có một loại thuế là thuế doanh thu.
Thuế doanh thu là thuế đánh trên doanh thu phát sinh của hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên do những bất cập của loại thuế này đó là dẫn đến tình trạng dánh thuế trùng lặp nếu hàng hóa và dịch vụ được luân chuyển qua nhiều khâu, điều đó mang tính bất hợp lý và có tác động tiêu cực đến sản xuất và lưu thông hàng hóa. Tại kỳ họp lần thứ 11 Quốc Hội khóa IX, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Thuế GTGT và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1999. Theo quy định của Luật thuế GTGT thì: “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”.
8 Tuy xuất hiện nhiều tên gọi khác nhau nhưng về bản chất thuế GTGT là thuế đánh trên phần giá trị mới được tạo ra (giá trị gia tăng) trong quá trình sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ. Trong đó: Tổng giá trị hàng hóa Tổng giá trị hàng hóa và dịch Giá trị gia tăng = - và dịch vụ bán ra vụ mua vào tương ứng Giá trị gia tăng của Thuế suất thuế GTGT tương Số thuế GTGT = hàng hóa và dịch vụ × ứng của hàng hóa và dịch vụ đó chịu thuế Có thể thấy, thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ của “người tiêu dùng cuối cùng”. Tuy nhiên thuế GTGT khác với những loại thuế gián thu khác, điều đó được thể hiện qua đặc điểm của thuế GTGT 1. Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng Thứ nhất: thuế GTGT là một loại thuế gián thu thể hiện qua việc: - Thuế GTGT đánh vào thu nhập của người tiêu dùng thông qua hành vi mua hàng hàng hóa và dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT (hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT theo quy định của pháp luật), là một yếu tố cấu thành trong giá cả của hàng hóa và dịch vụ, là khoản thu của NSNN được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp, hay nói cách khác giá cả của hàng hóa dịch vụ mà người tiêu dùng cuối cùng mua đã bao gồm thuế GTGT.
- Tính gián thu của thuế GTGT còn được biểu hiện thông qua việc, người mua hàng hóa, dịch vụ là người phải trả khoản thuế này thông qua giá bán của hàng hóa, dịch vụ. Như vậy, người mua không trực tiếp nộp thuế GTGT vào NSNN mà trả thuế thông qua giá thanh toán hàng hóa và dịch vụ cho người bán, trong đó bao gồm cả thuế GTGT. Người bán hay còn là người nộp thuế (Các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT (gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá 9 nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT (gọi là người nhập khẩu)) nộp các khoản thuế GTGT phải nộp mà người mua đã trả vào NSNN. - Thuế GTGT đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ đó.
Do vậy tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Như vậy, về nguyên tắc thì chỉ cần thu thuế ở khâu bán hàng cuối cùng. Tuy nhiên trên thực tế thì khó có thể xác định đâu là khâu bán hàng cuối cùng và đâu là khâu trung gian nên cứ có hành vi mua bán hàng hóa là phải tính thuế. Số thuế GTGT ở khâu trước sẽ được tự động chuyển vào giá bán hàng ở khâu sau và người tiêu dùng cuối cùng sẽ phải trả toàn bộ số thuế GTGT đánh trên hàng hóa đó.
Thứ hai: thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao Tính trung lập của thuế GTGT được biểu hiện ở 2 khía cạnh - Thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người thay mặt người tiêu dùng cuối cùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN. Do vậy thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là một khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hóa và dịch vụ. - Thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít. Thứ ba: thuế GTGT có tính chất lũy thoái so với thu nhập Thuế GTGT đánh vào hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người phải trả khoản thuế đó.
Thuế GTGT mang tính chất lũy thoái vì nó không tính đến khả năng thu nhập của người chịu thuế, người có thu nhập cao hay thấp đều chịu thuế như nhau nếu cùng tiêu dùng một loại hàng hóa, dịch vụ. Như vậy khi so sánh tỷ suất thuế GTGT trên tổng thu nhập thì người có thu nhập cao có tỷ suất thấp hơn người có thu nhập thấp. 10 Thứ tư: phạm vi đánh thuế GTGT Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Do vậy tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu tức là nhường quyền đánh thuế cho nước nhập khẩu và đánh thuế đối với hàng hóa dịch vụ nhập khẩu.
Tính thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn đó sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. - Căn cứ tính thuế là: giá tính thuế và thuế suất Giá tính thuế là một căn cứ quan trọng để xác định số thuế GTGT phải nộp vào NSNN. Nguyên tắc chung để xác định giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế GTGT nhưng đã bao gồm các loại thuế khác được ghi trên hóa đơn GTGT của người bán hàng, người cung cấp dịch vụ hoặc giá chưa có thuế GTGT được ghi trên chứng từ của hàng hóa nhập khẩu.
Tuy nhiên do trên thực tế quá trình sản xuất kinh doanh hay cung cấp dịch vụ trải qua nhiều công đoạn và mỗi loại hàng hóa, dịch vụ có một đặc điểm riêng nên Luật pháp cũng quy định rõ ràng ở Điều 7 luật thuế GTGT 13/2008/QH12 và các luật sửa đổi bổ sung luật thuế GTGT cùng với các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành kèm theo. Thuế suất thể hiện mức độ động viên trên một đơn vị của đối tượng chịu thuế, ngoại trừ thuế suất 0% áp dụng với đối với hàng hóa xuất khẩu. Vấn đề cần quan tâm là xác định số lượng các mức thuế suất thuế GTGT. Số lượng các mức thuế suất được thiết lập sao cho đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập nhưng vẫn phải giảm thiểu chi phí hành chính và chi phí chấp hành luật, không làm bóp méo hành vi và quyết định tiêu dùng (do giá cả tương đối giữa các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế suất khác nhau).
11 Trên thế giới có 2 xu hướng áp dụng thuế suất thuế GTGT đó là cơ chế đa thuế suất (từ 2 mức thuế suất trở lên) và cơ chế một thuế suất duy nhất, mỗi xu hướng đều có tồn tại ưu và nhược điểm riêng. Việc áp dụng cơ chế một thuế suất có ưu điểm là kỹ thuật tính nộp thuế đơn giản, hạn chế được gian lận, trốn thuế. Cơ chế này phù hợp với các nước có trình độ phát triển thấp, ý thức tự giác của NNT chưa cao, trình độ quản lý của cán bộ thuế cũng như các phương tiện kỹ thuật còn hạn chế. Tuy vậy nó lại không đảm bảo tính công bằng đối với thu nhập của người tiêu dùng.
Việc áp dụng cơ chế đa thuế suất khắc phục được phần nào tính chất lũy thoái của thuế GTGT, tùy theo tính thiết yếu, thông dụng hay sự xa xỉ của hàng hóa và dịch vụ mà áp dụng các mức thuế suất thuế GTGT cho phù hợp. Tuy cơ chế này đảm bảo tính công bằng đối với thu nhập của người tiêu dùng nhưng lại có nhược điểm là kỹ thuật tính toán phức tạp, đòi hỏi ý thức tự giác của NNT cao cũng như trình độ quản lý của cán bộ thuế và điều kiện trang thiết bị kỹ thuật phải hiện đại, đáp ứng được nhu cầu của NNT, đảm bảo giảm thiểu chi phí chấp hành pháp luật thuế. Và hiện nay qua quá trình áp dụng thực tiễn và sửa đổi bổ sung để khắc phục những bất cập tồn tại, luật thuế GTGT của Việt Nam đã được điều chỉnh từ bốn mức thuế suất (0%,5%,10%,20%) xuống còn ba mức thuế suất là: 0%, 5%, 10%.