Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn chung về quản lý thuế đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Chương 2: Thực trạng quản lý thuế của Chi cục thuế huyện Sóc Sơn đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp, phương hướng tăng cường quản lý thuế của Chi cục thuế huyện Sóc Sơn đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU 1. Vai trò của quản lý thuế đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Thuế không chỉ đơn thuần là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước mà thuế còn gắn liền với các vấn đề như tăng trưởng kinh tế, sự công bằng trong phân phối và ổn định xã hội. Tầm quan trọng của thuế là không thể phủ nhận đối với mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội, từ đó đặt ra yêu cầu cần quản lý thuế. Quản lý thuế là khâu mang tính quyết định đến nguồn thu từ thuế, đặc biệt là quản lý thuế đối với doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói riêng – nơi mà có nguồn thu lớn nhưng lại tương đối phức tạp trong việc kê khai và thu thuế.
Quản lý thuế có một số vai trò như sau: Thứ nhất, quản lý thuế đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu sẽ đảm bảo nguồn thu từ thuế được tập trung, chính xác, kịp thời, thường xuyên, ổn định vào Ngân sách nhà nước. Thuế là nguồn thu quan trọng nhất của Ngân sách Nhà nước. Mọi biện pháp đề ra đều nhắm đến mục tiêu đảm bảo nguồn thu từ thuế tập trung, ổn định. Kinh tế - xã hội càng phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước để giải quyết các vấn đề an ninh, quốc phòng, an sinh xã hội, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế.
cũng ngày càng gia tăng. Chính vì thế thuế càng có vai trò quan trọng. Công tác quản lý thu thuế có hiệu quả, chính xác, đáp ứng được yêu cầu và nguyện vọng của doanh nghiệp thì việc thu thuế mới được tiến hành một cách nhanh chóng, dễ dàng. Nguồn thu từ thuế từ đó ổn định, kịp thời góp phần phát triển kinh tế xã hội bởi Nhà nước có đủ kinh phí để chi trả cho các khoản chi tiêu của mình, phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích xã hội.
Vì vậy, quản lý thuế sẽ góp phần đảm bảo các nguồn thu từ thuế được thực hiện hiệu quả, ổn định và tập trung một lượng lớn vào Ngân sách Nhà nước. 6 Thứ hai, quản lý thuế góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật cũng như các quy định về quản lý thuế. Quản lý là quá trình tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Thông qua các hoạt động của công tác quản lý thuế có thể phát hiện ra nhưng quy định, chính sách không phù hợp với yêu cầu thực tiễn, nhưng quy định không mang tính khả thi.
Từ đó đưa ra các kiến nghị, phương pháp quản lý phù hợp hơn với từng đối tượng quản lý sao cho đạt được hiệu quả cao nhất. Như vậy, quản lý thuế giúp kiểm chứng lại các chính sách đã đề ra đồng thời hoàn thiện hơn các chính sách, pháp luật này sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế, đảm bảo ổn định, công bằng xã hội. Quản lý thuế cũng có tác động hai chiều, vừa là công cụ để giám sát việc chấp hành pháp luật thuế của doanh nghiệp cũng vừa là cầu nối đưa tiếng nói của doanh nghiệp đến các cơ quan ban hành chính sách. Doanh nghiệp là đối tượng của quản lý thuế.
Thông qua cơ quan quản lý thuế, cán bộ quản lý thuế và các kênh tiếp nhận những ý kiến đóng góp, phản hồi của doanh nghiệp sẽ được tập hợp và đứng trên góc độ doanh nghiệp để xem xét nhằm hoàn thiện hơn chính sách thuế sao cho vừa đáp ứng được yêu cầu quản lý vừa hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh. Thứ ba, quản lý thuế góp phần phát huy việc kiểm soát hoặc thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, đảm bảo công bằng xã hội. Thuế đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau. Thông qua quản lý thuế Nhà nước có thể kiểm soát, điều tiết nền kinh tế, kiểm soát hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Đối với những mặt hàng hạn chế nhập khẩu Nhà nước sẽ áp dụng mức thuế suất cao đối với một số loại thuế, ví dụ như mặt hàng ô tô nhập khẩu hiện nay được áp mức thuế Tiêu thụ đặc biệt rất cao, từ đó công tác quản lý thuế đối với những doanh nghiệp nhập khẩu các mặt hàng này sẽ được siết chặt để tránh doanh nghiệp lợi dụng kẽ hở trong chính sách để thực hiện hành vi gian lận về thuế. Đối với những mặt hàng 7 được khuyến khích nhập khẩu, Nhà nước sẽ có những chính sách ưu đãi thuế, ví dụ như hoàn thuế Giá trị gia tăng đầu vào đối với các mặt hàng xuất khẩu. Vì vậy, quản lý thuế đối với các doanh nghiệp này lại linh hoạt hơn, có thêm những giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ thuế một cách dễ dàng, nhanh chóng, từ đó góp phần giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh. Thứ tư, quản lý thuế góp phần tăng cường sự nghiêm minh của pháp luật thuế,đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hoạt động dựa trên chính sách, pháp luật của nhà nước, trong đó có pháp luật thuế. Quản lý thuế là biện pháp hữu hiệu để giám sát việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp này. Vì lợi nhuận các doanh nghiệp có thể sẵn sàng thực hiện các hành vi để gian lận thuế, trốn thuế, gây thất thoát Ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự nghiêm minh của pháp luật, gây mất lòng tin của người dân vào Nhà nước. Chính vì thế, quản lý thuế chính là biện pháp hữu hiệu nhất để hạn chế tình trạng này.
Thứ năm, quản lý thuế tạo ra sự công bằng giữa các doanh nghiệp. Quản lý thuế là công cụ để giám sát việc thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Thuế được thu dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thông qua quản lý thuế sẽ xác định được quy mô kinh doanh, từ đó xác định được số thuế phải nộp của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có quy mô kinh doanh khác nhau sẽ nộp mức thuế khác nhau, đó là sự công bằng.
Ngoài ra, thông qua quản lý thuế các doanh nghiệp vi phạm pháp luật về thuế sẽ bi xử phạt, các doanh nghiếp chấp hành tốt pháp luật thuế sẽ được tuyên dương. Giữa doanh nghiệp chấp hành tốt chính sách và doanh nghiệp vi phạm sẽ có cách quản lý khác nhau. Ví dụ như trong hoàn thuế, các doanh nghiệp chấp hành tốt chính sách pháp luật thuế, hoàn thành nghĩa vụ thuế đúng hạn được ưu tiên hoàn thuế trước kiểm tra sau với thủ tục hoàn đơn giản, thời gian hoàn nhanh chóng hỗ trợ doanh nghiệp quay vòng vốn để phát triển sản xuất kinh doanh, ngược lại đối 8 với các doanh nghiệp còn lại sẽ áp dụng hình thức kiểm tra trước hoàn thuế sau với thời gian hoàn kéo dài hơn. Đây chính là cách quản lý thuế tạo ra sự công bằng giữa các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói riêng.
Thứ sáu, tăng cường quản lý thuế đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu góp phần đáp ứng yêu cầu hội nhập. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, Việt Nam đang là thành viên của hàng loạt các tổ chức kinh tế - chính trị như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)., nhiều hiệp định thương mại đã và đang được đàm phán và kí kết như Hiệp định đối tác xuyên Thái bình dương (TPP), Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực giữa 10 nước ASEAN và 6 nước đối tác (RCEP), FTA với Liên minh châu Âu, FTA Việt Nam – Hàn Quốc. Quá trình hội nhập mang đến cho chúng ta nhiều cơ hội để phát triển kinh tế, mở rộng thị trường nhưng cũng đồng nghĩa với việc phải thực hiện các cam kết cắt giảm thuế. Ở đây, quản lý thuế sẽ có vai trò vừa ổn định nguồn thu vừa phải phù hợp với các thông lệ và điều ước quốc tế, đặc biệt đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu là những doanh nghiệp đi đầu trong xu thế hội nhập.
Nội dung quản lý thuế đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu Sự ra đời của thuế là một tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Để duy trì sự tồn tại của mình và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ về kinh tế, xã hội, chính trị, an ninh, quốc phòng… thì Nhà nước phải có những nguồn lực vật chất nhất định. Việc huy động các nguồn lực vật chất được Nhà nước thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, trong đó có hình thức đóng góp bắt buộc thể hiện dưới dạng thuế. Để thu được thuế, Nhà nước đã thể chế hóa yêu cầu bắt buộc đóng góp nguồn lực tài chính cho Ngân sách Nhà nước 9 đối với các thể nhân, pháp nhân và từ đó hình thành hệ thống quản lý thuế.
Quản lý thuế là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật. Công tác quản lý thuế là một phần quan trọng của quản lý tài chính nhà nước, công tác này không chỉ được nhìn nhận ở tầm vĩ mô, mà còn cả ở tầm vi mô và phải bao gồm toàn bộ các công việc thuộc lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp về thu thuế. Theo luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 có hiệu lực từ ngày 29 tháng 11 năm 2006, sửa đổi bổ sung ngày 06 tháng 04 năm 2016, một số nội dung của công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp trong đó có các doanh nghiệp xuất nhập khẩu bao gồm: 1.1 Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế 1. Đăng ký thuế Đăng ký thuế là việc cần làm đầu tiên trong quá trình quản lý thuế.