CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ, PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ VÀ CƠ CHẾ TỰ KHAI, TỰ NỘP THUẾ 1.Cơ sở lý luận về quản lý thuế, pháp luật quản lý thuế và cơ chế tự khai, tự nộp thuế 1. Khái niệm về quản lý thuế và pháp luật quản lý thuế 1. Khái niệm về quản lý thuế Ngày 13/6/2019, Quốc hội đã ban hành Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2020 (thay thế Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 21/2012/QH13, Luật số 71/2014/QH13 và Luật số 106/2016/QH13). Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật quản lý Thuế (2019) thì thuế là một khoản nộp ngân sách nhà nước (NSNN) bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các luật thuế.
Quản lý thuế là việc Nhà nước xác lập cơ chế, biện pháp để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của chủ thể nộp thuế, cơ quan thu thuế và các tổ chức cá nhân có liên quan trong quá trình thu, nộp thuế (Luật quản lý Thuế, 2019). Từ điều luật này có thể thấy quản lý thuế bao gồm các quy định mang tính thủ tục được xây dựng để thực hiện các chính sách thuế của nhà nước. Ngoài ra, khái niệm quản lý thuế có thể được hiểu theo hai nghĩa như sau: Theo nghĩa rộng: quản lý thuế là quản lý nhà nước trong lĩnh vực thu, là quá trình xây dựng, phát triển hệ thống thuế, ban hành các luật thuế, tổ chức, quản lý, điều hành, thanh tra, giám sát việc thực hiện các luật thuế, thanh tra, kiểm tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật thuế… Theo nghĩa hẹp: quản lý thuế là quản lý hành chính nhà nước về thuế là việc tổ chức quản lý, điều hành quá trình thu nộp thuế, bao gồm các hoạt động chấp hành kế hoạch và trình tự nhất định được thực hiện bởi cơ quan quản lý thuế (Lê Xuân Trường, 2010). 6 Quản lý thuế là những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu NSNN thực hiện … đó là những hoạt động thường xuyên của cơ quan thu hướng về phía đối tượng nộp nhằm đảm bảo thu thuế đầy đủ, kịp thời và đúng luật định (Nguyễn Văn Hiệu, 2020).
Từ đó ta hiểu quản lý thuế là việc các chủ thể được giao nhiệm vụ quản lý thuế sẽ tổ chức, phân công cho các bộ phận, nhân sự để thực thi các chính sách thuế như thu thuế từ các chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế, đảm bảo tiến độ của việc nộp thuế cũng như bảo quản, quản lý nguồn tiền sau khi thu thuế. Đồng thời quản lý thuế cũng là việc Nhà nước xác lập cơ chế, biện pháp sao cho quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế được bảo đảm và các cơ quan quản lý thuế hoạt động minh bạch, công tâm. Khái niệm về pháp luật quản lý thuế Do thuế có tính chất bắt buộc trên phạm vi rộng và mỗi loại thuế lại có đối tượng điều chỉnh khác nhau nên để có thể quản lý thuế thì nhà nước phải đưa ra một hệ thống pháp luật thuế được ghi nhận cụ thể dưới hình thức văn bản pháp luật. Trong đó, một văn bản quy định một loại thuế bao gồm các nội dung chủ yếu như: tên của văn bản pháp luật thuế, đối tượng nộp thuế, căn cứ tính thuế, các khâu của quá trình thu nộp thuế, miễn giảm thuế, đối tượng thu thuế và xử lý vi phạm… tùy theo quy mô áp dụng của từng loại thuế mà các văn bản pháp luật có mức độ chi tiết khác nhau.
Quan hệ thu, nộp thuế giữa nhà nước và dân cư phải được thực hiện dựa trên những căn cứ pháp lý nhất định, đó chính là pháp luật quản lý thuế. Pháp luật quản lý thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người nộp thuế nhằm hình thành nguồn thu NSNN để thực hiện các mục tiêu xác định trước (Nguyễn Văn Hiệu, 2020). Xét về cấu trúc tổng quát, hệ thống pháp luật thuế được cấu thành bởi hai bộ phận chính: Bộ phận pháp luật quy định về nội dung của các sắc thuế và bộ phận pháp luật về quản lý thuế. Pháp luật quản lý thuế có nhiệm vụ quy định quyền và 7 nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể trong các quan hệ liên quan đến quản lý thuế; Quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời hạn, cách thức giải quyết công việc liên quan đến quá trình quản lý thu nộp thuế.
Hay nói cách khác, pháp luật quản lý thuế là công cụ chủ yếu để tổ chức thực hiện các luật thuế. Các quan hệ mà pháp luật quản lý thuế điều chỉnh khá đa dạng. - Nếu căn cứ vào chủ thể tham gia quan hệ thì pháp luật quản lý thuế điều chỉnh các nhóm quan hệ sau: + Quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế với người nộp thuế (NNT) phát sinh trong quá trình quản lý thu, nộp các loại thuế (đây là nhóm quan hệ chủ đạo) + Quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý thuế như: việc cung cấp thông tin về NNT, phối hợp trong việc tuyên truyền, hỗ trợ và trong cưỡng chế thuế + Quan hệ phát sinh trong nội bộ cơ quan quản lý thuế liên quan đến việc tổ chức bộ máy quản lý và phân định thẩm quyền trong cơ quan quản lý thuế. + Quan hệ giữa NNT với tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế, với tổ chức tín dụng trong việc bảo lãnh số tiền thuế hoặc thực hiện dịch vụ thanh toán tiền thuế cho NNT… - Căn cứ vào nội dung quản lý thuế, pháp luật quản lý thuế điều chỉnh các quan hệ về đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về NNT; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế… Việc đưa ra khái niệm pháp luật thuế nhằm phân định ranh giới giữa các nhóm quan hệ, qua đó lựa chọn áp dụng các quy phạm pháp luật phù hợp, đạt được hiệu quả điều chỉnh cao.
Vậy chúng ta có thể khái quát lại khái niệm pháp luật quản lý thuế như sau: “Pháp luật quản lý thuế là một bộ phận của pháp luật thuế trong đó quy định về quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của NNT, cơ quan quản lý thuế và các chủ thể liên quan đến quản lý thuế; quy định trình tự, thủ tục, cách thức, phương pháp tổ chức thực hiện các luật thuế”. Quản lý công tác tự khai, tự nộp thuế 1. Khái niệm cơ chế tự khai, tự nộp thuế Theo nghĩa hẹp, tự khai tự nộp là đối tượng nộp thuế tự xác định căn bản thuế, tự tính thuế, tự xác định số thuế phải nộp và tự nộp thuế theo đúng thời hạn qui định. Theo nghĩa rộng, tự khai tự nộp là một phương thức quản lý thuế được xây dựng trên nền tảng sự tuân thủ của đối tượng nộp thuế được cụ thể bằng việc đối tượng nộp thuế tự thực hiện các nghĩa vụ mà Luật qui định và cơ quan thuế được tổ chức và thực hiện các biện pháp quản lý thuế phù hợp với nguyên tắc đó.
Tự kê khai, tự nộp thuế là cơ chế quản lý thuế trong đó người nộp thuế tự giác tuân thủ thực hiện các nghĩa vụ thuế: người nộp thuế căn cứ các qui định tại các Luật thuế để xác định nghĩa vụ thuế của mình, kê khai chính xác, nộp tờ khai thuế và nộp thuế đúng thời hạn (Phan Hữu Nghị, 2020). Cơ quan thuế không can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế nếu người nộp thuế tự giác tuân thủ nghĩa vụ. Cơ quan thuế có trách nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để người nộp thuế hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của người nộp thuế và thông qua công tác kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý kịp thời, đúng đắn những hành vi gian lận, trốn thuế của người nộp thuế. Việc giám sát, kiểm tra của cơ quan thuế được thực hiện trên cơ sở có đầy đủ thông tin về người nộp thuế và thực hiện phân tích thông tin, đánh giá những rủi ro để lựa chọn chính xác những trường hợp có vi phạm cần thanh tra, kiểm tra.
Điều này sẽ giúp khắc phục được việc thanh tra, kiểm tra tràn lan, gây lãng phí nguồn lực cho cơ quan thuế và phiền hà cho người nộp thuế. Như vậy, theo cơ chế này thì các tổ chức, cá nhân nộp thuế căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ kê khai của mình và căn cứ vào các quy định của pháp luật về nghĩa vụ thuế tự tính ra số thuế phải nộp ngân sách Nhà nước, từ đó tự kê khai và tự thực hiện nghĩa vụ nộp số thuế đã kê khai vào Ngân sách Nhà nước theo đúng thời hạn qui định của pháp luật. 9 Cơ chế tự khai, tự tính, tự nộp thuế đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Trước hết, cơ chế này là một phương thức quản lý thuế được xây dựng dựa trên nền tảng là sự tuân thủ tự nguyện của đối tượng nộp thuế, quản lý thuế dựa trên kỹ thuật quản lý rủi ro.
Bên cạnh đó, cơ chế tự khai, tự tính, tự nộp thuế đòi hỏi các tổ chức, cá nhân nộp thuế phải nâng cao trách nhiệm vì tờ khai là do tổ chức, cá nhân nộp thuế tự lập trên cơ sở sản xuất kinh doanh của mình và chính sách chế độ về thuế mà không cần có sự xác nhận của cơ quan thuế. Tổ chức, cá nhân nộp thuế phải chịu trách nhiệm về kết quả của việc tính thuế, kê khai thuế của mình trước pháp luật.