chương 1 tác giả đã trình bày đầy đủ các nội dung về yêu cầu của các nội dung cần phải có để nghiên cứu đề tài, từ đó tìm ra cơ sở lý thuyết để nghiên cứu đề tài và đặc biệt đưa ra mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Nội dung của chương cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu bao gồm: một số khái niệm nghiên cứu, nội dung tuân thủ thuế của DN, công tác quản lý thuế của cơ quan thuế, lược khảo tài liệu nghiên cứu và mô hình và giả thuyết nghiên cứu.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 2.1 Khái niệm về tuân thủ thuế và không tuân thủ thuế a. Khái niệm - Tuân thủ là gì? Tuân thủ là giữ và làm đúng theo quy định [www. Tuân thủ pháp luật là hành vi làm đúng những gì mà pháp luật qui định.
- Khái niệm về tuân thủ thuế: + OECD đã đưa ra khái niệm về tuân thủ thuế như sau: Tuân thủ thuế về cơ bản liên quan đến mức độ đáp ứng nghĩa vụ thuế của người nộp thuế như: thực hiện đăng ký thuế trong hệ thống của cơ quan thuế; Nộp hồ sơ khai thuế hoặc các thông tin cần thiết về thuế kịp thời; Báo cáo đầy đủ, chính xác số thuế phải nộp (lưu trữ hồ sơ tốt); Nộp thuế đúng thời gian quy định [13]. + Theo Simon James and Clinton Alley: Tuân thủ thuế được định nghĩa đơn giản nhất là mức độ mà người nộp thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế [16]. Điều này có nghĩa là người nộp thuế phải thực hiện các nghĩa vụ về thuế của mình theo đúng luật và phù hợp với thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh. Đồng thời tác giả phân tích mức độ chấp hành cao hay thấp, chấp hành 100% hay chấp hành một phần do nhiều nguyên nhân.
+ Tác giả Nguyễn Thị Lệ Thúy trong nghiên cứu của mình cũng tìm được khái niệm cơ bản về tuân thủ: Sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng mục đích của Luật một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian. Như vậy khái niệm tuân thủ thuế được đo bằng 3 yếu tố (1) tính đầy đủ, (2) tính tự nguyện và (3) yếu tố thời gian.[20] 9 Có nhiều khái niệm khác nhau về tuân thủ thuế, theo tác giả tuân thủ thuế là việc NNT thực hiện đúng các quy định về pháp luật thuế một cách tự nguyện. - Khái niệm về không tuân thủ thuế: Ngược với tuân thủ thuế, OECD cũng đưa ra khái niệm về không tuân thủ thuế: NNT không đáp ứng bất kỳ nghĩa vụ nào thì được xem như không tuân thủ thuế. Không tuân thủ thuế được đánh giá ở nhiều cấp độ khác nhau.
Ngoài ra, không tuân thủ thuế còn do nhiều nguyên nhân gây ra như do lỗi vô ý hoặc gian lận có chủ ý.[15] Bất kỳ hành vi không tuân thủ nào (trốn thuế hay tránh thuế) đều ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả của công tác quản lý thuế. Hầu hết chính phủ và cơ quan thuế các quốc gia đều mong muốn tăng cường tuân thủ thuế, hạn chế đến mức tối đa các hành vi không tuân thủ (dù là trốn thuế hay tránh thuế). Việc không tuân thủ các quy định về thuế làm thu hẹp diện cơ sở chịu thuế và dẫn đến thất thoát nguồn thu. Các nước có mức độ tuân thủ thấp phải đối mặt với việc thường xuyên thay đổi chế độ thuế để duy trì số thu từ thuế chiếm một tỷ lệ nhất định so với GDP.
Các thay đổi thường xuyên và thiếu hệ thống trong các chính sách thuế lại có nguy cơ khiến cho hệ thống thuế kém ổn định và kém bình đẳng hơn. Vì vậy, việc nâng cao mức độ tự nguyện tuân thủ đã trở thành một mục tiêu thể chế và vận hành của các cuộc cải cách thuế trên toàn thế giới. Theo Jackson & Milliron (1986) [12] và Kasipillai & Jabbar (2003) [10] không tuân thủ thuế được xác định là việc không sẵn lòng tuân theo luật thuế và/hoặc khai báo thu nhập không chính xác, thực hiện kê khai sai các khoản giảm trừ, miễn giảm thuế hoặc không thanh toán chính xác nghĩa vụ thuế, ngoài thời gian nộp thuế đã được quy định. Phân loại về tuân thủ - Tuân thủ thuế được đánh giá ở các mức độ khác nhau, từ mức độ đó chia tuân thủ thành hai loại khác nhau: Tuân thủ tự nguyện và tuân thủ có sự quản lý của cơ quan thuế.
+ Tuân thủ tự nguyện là việc NNT ý thức được việc nộp thuế là nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, họ tuân thủ đầy đủ việc kê khai, tính thuế, nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật về thuế. + Tuân thủ có sự quản lý của cơ quan thuế là NNT tuân thủ thuế nhưng phải trên cơ sở đôn đốc, nhắc nhở và kiểm tra, kiểm soát của cơ quan thuế. 10 - Không tuân thủ thuế được phân loại thành không tuân thủ có chủ ý và không có chủ ý. + Không tuân thủ có chủ ý là việc NNT cố tình làm sai hoặc cố tình không thực hiện các quy định pháp luật về thuế.
+ Không tuân thủ có không chủ ý là việc NNT không hiểu hoặc hiểu không đúng về chính sách thuế, hoặc không có sự quản lý chặt chẽ của cơ quan thuế. Nghĩa vụ thuế theo Luật quản lý thuế - Đăng ký thuế là việc người nộp thuế kê khai những thông tin của người nộp thuế như: Tên NNT, địa chỉ, người đại diện pháp luật,. theo mẫu quy định và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế để bắt đầu thực hiện nghĩa vụ về thuế với Nhà nước theo quy định của pháp luật. Việc đăng ký thuế được quy định bắt buộc đối với tất cả các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh, phát sinh nghĩa vụ nộp thuế, được hoàn thuế đều phải thực hiện việc đăng ký thuế để được cấp một mã số thuế.
[21] - Khai thuế là việc người nộp thuế tự xác định số thuế phải nộp phát sinh trong kỳ kê khai thuế (tháng, quý, năm hoặc từng lần phát sinh) theo quy định của từng Luật thuế, Pháp luật thuế. Người nộp thuế sử dụng hồ sơ khai thuế của từng loại thuế theo quy định của Luật quản lý thuế để kê khai số thuế phải nộp với cơ quan thuế và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của các số liệu trong hồ sơ khai thuế [21]. - Nộp thuế là NNT thực hiện nộp số tiền thuế đã kê khai vào NSNN theo đúng quy định. Người nộp thuế phải tính, xác định số tiền thuế phải nộp ngân sách nhà nước.2 Khái niệm và vai trò của thuế TNDN Thuế TNDN xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của thuế.
Hiện nay ở các nước phát triển, thuế TNDN giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách Nhà nước và thực hiện phân phối thu nhập. Mức thuế cao hay thấp áp dụng cho các chủ thể thuộc đối tượng nộp thuế TNDN là khác nhau, điều đó phụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập và mục tiêu đặt ra trong phân phối thu nhập của từng quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Thuế TNDN ra đời bắt nguồn từ các lý do chủ yếu sau: - Thuế TNDN ra đời bắt nguồn từ yêu cầu thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội. 11 - Sự ra đời của thuế TNDN xuất phát từ nhu cầu tài chính của Nhà nước.
Ở nước ta, với quá trình cải cách thuế được thực hiện qua nhiều giai đoạn, trong quá trình cải cách thuế có nhiều Luật thuế ra đời, trong đó Luật thuế lợi tức đã được ban hành vào thời điểm cải cách thuế giai đoạn I năm 1990. Tuy nhiên qua 8 năm thực hiện, Luật thuế lợi tức dần dần bộc lộ nhiều nhược điểm và không còn phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới (giai đoạn mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới). Vì vậy, Luật thuế TNDN được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay thế cho Luật thuế Lợi tức nhằm đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Khái niệm thuế TNDN Thuế TNDN là loại thuế trực thu, tính toán trên kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp.
Đối tượng nộp thuế TNDN là tất cả các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có phát sinh thu nhập. Vai trò của thuế TNDN Thuế TNDN là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta, tất cả các thành phần kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh và bình đằng trên cơ sở pháp luật. Các DN với lực lượng lao động có tay nghề cao, năng lực tài chính mạnh thì DN đó sẽ có ưu thế và có cơ hội để nhận được thu nhập cao; ngược lại các DN với năng lực tài chính, lực lượng lao động bị hạn chế sẽ nhận được thu nhập thấp, thậm chí không có thu nhập.
Ðể hạn chế nhược điểm đó, Nhà nước sử dụng thuế TNDN làm công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể có thu nhập cao, đảm bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể kinh doanh vào NSNN được công bằng, hợp lý. Thuế TNDN là nguồn thu quan trọng của NSNN. Thuế TNDN là công cụ quan trọng để góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo chiều hướng kế hoạch, chiến lược, phát triển toàn diện của Nhà nước. Thuế TNDN còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ phát triển kinh tế nhất định.
12 Thuế TNDN là loại thuế có vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam, song để phát huy một cách có hiệu quả vai trò của thuế TNDN, cần phải xem xét nó dưới nhiều khía cạnh, kể cả những kinh nghiệm xử lý của nước ngoài. Nhà nước có nhiều chính sách ưu đãi, khuyến khích đối với các chủ thể đầu tư, kinh doanh vào những ngành, lĩnh vực và những vùng, miền mà Nhà nước có chiến lược ưu tiên phát triển trong từng giai đoạn nhất định. Giới thiệu về tính thuế, khai thuế, nộp thuế TNDN của NNT Phạm vi áp dụng của thuế TNDN gồm các tổ chức kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có phát sinh lợi nhuận, có thu nhập chịu thuế.