phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục thì đề án gồm có 03 phần như sau: Phần 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Quản lý thuế thu nhập cá nhân Phần 2: Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường quản lý thu thuế thu nhập cá nhân của Cục thuế tỉnh Quảng Ninh Phần 3. Giải pháp, kiến nghị và tổ chức thực hiện quản lý thu thuế thu nhập cá nhân của Cục thuế tỉnh Quảng Ninh 5 PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý thuế thu nhập cá nhân 1.1 Thuế thu nhập cá nhân Thu thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là một loại thuế trực thu, được áp dụng đối với thu nhập của cá nhân từ nhiều nguồn khác nhau. Theo Luật Thu thuế thu nhập cá nhân (2007), thuế này được hiểu là khoản thuế mà cá nhân phải nộp cho Nhà nước, căn cứ vào tổng thu nhập mà họ nhận được từ các hoạt động kinh tế, sản xuất, kinh doanh, và các nguồn thu khác. Thu nhập chịu thuế bao gồm tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ đầu tư vốn, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, và các khoản thu nhập khác.
Thu thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là một loại thuế trực thu quan trọng, đánh vào thu nhập của cá nhân sau khi đã trừ các khoản được miễn, giảm trừ theo quy định của pháp luật. Đây là một công cụ tài chính chủ yếu của Nhà nước để huy động nguồn lực cho ngân sách, đồng thời thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội, điều tiết thu nhập, góp phần giảm bất bình đẳng xã hội. Theo Nguyễn Thị Cúc, (2019), thuế TNCN là "một khoản tiền mà cá nhân có thu nhập phải nộp cho ngân sách nhà nước, được tính trên thu nhập chịu thuế của cá nhân đó theo mức thuế suất quy định". Định nghĩa này nhấn mạnh bản chất của thuế TNCN là một khoản đóng góp bắt buộc từ phía người có thu nhập, đồng thời thể hiện tính công bằng thông qua việc áp dụng thuế suất lũy tiến theo mức thu nhập [19].
Trong khi đó, Đặng Ngọc Đức (2017) "Thuế TNCN là một công cụ quan trọng của chính sách tài khóa, không chỉ giúp huy động nguồn thu cho ngân sách mà còn góp phần điều tiết thu nhập, khuyến khích đầu tư, tiết kiệm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế" [10]. Tác giả này đã chỉ ra vai trò đa chiều của thuế TNCN, vượt ra khỏi phạm vi thuần túy về tài chính. Từ góc độ pháp lý, Luật Thuế TNCN số 04/2007/QH12 định nghĩa: "Thuế TNCN là thuế trực thu đánh vào thu nhập của cá nhân, bao gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú có thu nhập phát sinh tại Việt Nam". Điều này cho thấy phạm vi điều chỉnh của Luật, bao quát cả công dân Việt Nam và người nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam.
Thuế TNCN là một loại thuế trực thu, đánh vào thu nhập của cá nhân sau khi đã trừ các khoản miễn, giảm trừ theo quy định. Nó không chỉ là một nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước mà còn là công cụ để thực hiện các chính sách kinh tế 6 - xã hội, điều tiết thu nhập, khuyến khích đầu tư, tiết kiệm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tính công bằng của thuế TNCN được thể hiện thông qua việc áp dụng thuế suất lũy tiến theo mức thu nhập, đảm bảo người có thu nhập cao đóng góp nhiều hơn cho xã hội.2 Quản lý thuế thu nhập cá nhân 1.1 Khái niệm quản lý thuế thu nhập cá nhân Quản lý thu thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là một hoạt động quan trọng trong hệ thống quản lý tài chính công, nhằm đảm bảo việc thu đúng, thu đủ thuế TNCN vào ngân sách nhà nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế của mình. Quản lý thuế TNCN bao gồm nhiều hoạt động như: đăng ký, kê khai, tính toán, thu nộp, hoàn thuế, kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm.
Theo Nguyễn Thị Cúc (2018), quản lý thuế TNCN là "quá trình tổ chức và thực hiện các hoạt động nhằm thu đúng, thu đủ thuế TNCN vào ngân sách nhà nước, đảm bảo tính công bằng, minh bạch và hiệu quả" [19]. Định nghĩa này nhấn mạnh mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của quản lý thuế TNCN. Phạm Đức Minh (2015) trong cuốn "Quản lý thuế" lại tiếp cận từ góc độ quy trình: "Quản lý thuế TNCN bao gồm các giai đoạn: đăng ký người nộp thuế, kê khai thu nhập, tính toán số thuế phải nộp, thu nộp thuế, hoàn thuế, kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm về thuế TNCN" [24]. Tác giả đã chỉ ra các bước cụ thể trong quy trình quản lý thuế TNCN.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam cũng đã quy định rõ ràng về cơ chế quản lý thu thuế thu nhập cá nhân thông qua Luật Thu thuế thu nhập cá nhân (2007) và các văn bản hướng dẫn liên quan như Nghị định số 65/2013/NĐ-CP và Thông tư số 111/2013/TT-BTC. Theo các văn bản này, việc quản lý thuế TNCN phải được thực hiện theo nguyên tắc công bằng, minh bạch, và bình đẳng. Các quy định pháp luật này cũng nhấn mạnh đến việc kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các hành vi trốn thuế, gian lận thuế nhằm bảo đảm sự công bằng và hiệu quả trong việc thu thuế.Từ góc độ pháp lý, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 quy định: "Quản lý thuế là hoạt động của cơ quan quản lý thuế và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm thực hiện các biện pháp quản lý thuế theo quy định của pháp luật về thuế". Điều này cho thấy quản lý thuế TNCN là một bộ phận của hoạt động quản lý thuế nói chung, tuân thủ các quy định của pháp luật về thuế.
Quản lý thuế TNCN là một quá trình phức tạp, bao gồm nhiều hoạt động nhằm thu đúng, thu đủ thuế TNCN vào ngân sách nhà nước, đảm bảo tính công bằng, minh 7 bạch và hiệu quả. Quản lý thuế TNCN hiệu quả không chỉ góp phần tăng thu ngân sách mà còn tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội.2 Nội dung quản lý thu thuế thu nhập cá nhân a. Công tác ban hành/triển khai văn bản về quản lý thuế TNCN Công tác ban hành và triển khai văn bản về quản lý thuế TNCN đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống thuế TNCN. Việc ban hành văn bản pháp luật về thuế TNCN không chỉ tạo ra các quy định pháp lý làm cơ sở để tính và thu thuế, mà còn đưa ra những căn cứ để kiểm tra, thanh tra và áp dụng các chế tài đối với quá trình tính và thu này.
Mặt khác, công tác triển khai văn bản pháp luật về thuế TNCN giúp phổ biến, hướng dẫn và hỗ trợ người nộp thuế (NNT) hiểu rõ và thực hiện đúng các quy định về thuế, từ đó nâng cao tính tuân thủ và minh bạch trong hoạt động nộp thuế. Công tác quản lý thuế TNCN là một phần quan trọng của quản lý tài chính Nhà nước. Công tác này cần được nhìn nhận ở tầm vĩ mô và phải bao gồm toàn bộ các công việc thuộc các lĩnh vực lập pháp và hành pháp, tư pháp về thu. Nội dung của công tác quản lý thuế TNCN bao gồm việc ban hành chính sách thuế TNCN.
Đây là công việc thuộc lĩnh vực lập pháp. Việc ban hành chính sách thuế TNCN sẽ tạo ra những quy định pháp luật làm cơ sở để tính và thu thuế TNCN. Đồng thời ban hành chính sách cũng đưa ra những căn cứ để kiểm tra, thanh tra và áp dụng các chế tài đối với quá trình tính và thu này. Thực tiễn cho thấy có hai xu hướng: một là, các vấn đề về quản lý thuế được ghi nhận trong các luật về chính sách thuế; hai là, các vấn đề về quản lý thuế được quy định tại một văn bản độc lập – gọi là luật quản lý thuế.
Mỗi một xu hướng đều có các ưu nhược điểm khác nhau. Dù được xây dựng, thiết kế theo nguyên tắc nào thì luật quản lý thuế bao giờ cũng có vai trò hết sức quan trọng trong việc quản lý điều hành chính sách thuế hay nói một cách trực diện hơn, luật quản lý thuế là luật tổ chức thực hiện các luật thuế. Vì vậy, vấn đề hiệu quả của các luật về chính sách thuế phụ thuộc khá lớn vào luật quản lý thuế. Cho dù các luật về chính sách thuế phản ánh chuẩn xác, khoa học chính sách thuế nhưng nếu luật quản lý thuế - quản lý cách thức vận hành của chính sách thuế - không phù hợp và thiếu tính khoa học, vô hình trung, đã làm vô hiệu hoá các luật thuế.
Cũng cần có nhận thức sâu sắc rằng, luật quản lý thuế và các luật về chính sách thuế có mối quan hệ nội tại thống nhất với nhau, sự thay đổi nội dung của các luật 8 thuế tất yếu kéo theo sự thay đổi của luật quản lý thuế, đặc biệt đối với luật quản lý thuế có quy định những vấn đề quản lý mang tính chất đặc thù của từng sắc thuế. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa sự thay đổi của luật quản lý thuế hoàn toàn phụ thuộc vào sự thay đổi của các luật thuế, mà luật quản lý thuế có tính độc lập tương đối của nó. Sự thay đổi cơ bản của luật quản lý thuế phần lớn phụ thuộc vào cơ chế, phương thức quản lý thuế của một quốc gia, phụ thuộc vào ý thức tuân thủ luật pháp của các thành viên trong xã hội. Và cũng phải thấy rằng, luật quản lý thuế không chỉ có mối quan hệ chặt chẽ với các luật thuế mà còn có mối quan hệ chặt chẽ với các văn bản pháp luật khác, như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thanh tra, Luật Hải quan, Pháp lệnh Điều tra các vụ án hình sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính v.
Vì vậy khi ban hành luật quản lý thuế cần có sự cân nhắc cẩn trọng để đảm bảo tính thống nhất giữa các văn bản pháp luật đó. Quản lý quyết toán thuế, hoàn thuế Việc quyết toán thuế cho từng ĐTNT là cần thiết.