phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, có kết cấu bao gồm 3 phần: Phần 1: Một số cơ sở lý luận cơ bản và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý thu ngân sách nhà nước của hệ thống quản lý nhà nước địa phương trực thuộc tỉnh Phần 2: Phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý thu ngân sách nhà nước của thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Phần 3: Các kiến nghị và đề xuất về thực hiện quản lý thu ngân sách nhà nước của thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh thời gian tới, định hướng đến 2030. 6 Phần 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA HỆ THỐNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỊA PHƯƠNG TRỰC THUỘC TỈNH 1. Tổng quan về thu ngân sách nhà nước và quản lý thu ngân sách nhà nước của hệ thống quản lý nhà nước địa phương trực thuộc tỉnh 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò và phân cấp thu ngân sách nhà nước của hệ thống quản lý nhà nước địa phương trực thuộc tỉnh 1.
Khái niệm thu ngân sách nhà nước của hệ thống quản lý nhà nước địa phương trực thuộc tỉnh Theo Quốc hội (2015) trong Luật NSNN số 83/2015/QH13 đã định nghĩa: “Thu ngân sách Nhà nước là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sách Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước”. Theo đó, thu NSNN gắn liền với việc sử dụng quyền lực của Nhà nước như một công cụ để tập trung các nguồn lực tài chính của đất nước thành một quỹ tài chính công để phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu của hệ thống QLNN. Theo Ngô Thắng Lợi (2012): “Thu ngân sách Nhà nước địa phương là việc cơ quan quản lý Nhà nước tại địa phương tạo lập nguồn tài chính nhằm thực hiện chức năng Nhà nước bằng việc tập trung toàn bộ các khoản thu huy động vào quỹ ngân sách trong một thời kỳ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của địa phương theo phân cấp. Nó chỉ bao gồm những khoản thu huy động vào ngân sách, không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả cho đối tượng nộp.
Như vậy, thu NSNN địa phương là hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nước tại địa phương trong việc tạo lập và huy động nguồn tài chính vào một quỹ ngân sách trong một thời gian nhất định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của địa phương theo phân cấp. Từ các quan điểm về NSNN và định nghĩa thu NSNN như đã phân tích ở trên trên, có thể rút ra khái niệm: Thu ngân sách nhà nước của hệ thống QLNN địa phương trực thuộc tỉnh là quá trình hệ thống QLNN địa phương trực thuộc tỉnh sử dụng quyền lực để huy động một bộ phận giá trị của cải xã hội hình thành quỹ ngân sách nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu để thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH 7 địa phương. Thu NSNN của địa phương bao gồm rất nhiều loại, ngoài các khoản thu chính từ thuế, phí, lệ phí, còn có các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước, từ đóng góp của các cá nhân trong và ngoài nước, hay các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Đặc điểm thu ngân sách nhà nước của hệ thống quản lý nhà nước địa phương trực thuộc tỉnh Thu NSNN của hệ thống QLNN địa phương trực thuộc tỉnh có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, hầu hết các khoản thu NSNN đều mang tính pháp lý và bắt buộc.
Thu NSNN là điều kiện bắt buộc để chính quyền có thể duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng cũng như nhiệm vụ của mình. Tất cả các khoản thu NSNN đều được thể chế hóa qua các quy định về chính sách pháp luật của nhà nước. Thứ hai, mức độ và cơ cấu thu NSNN phản ánh cơ bản mức độ và cơ cấu của nền kinh tế của địa phương và của đất nước. Tùy vào quy mô và tốc độ của nền kinh tế mà mỗi địa phương mà nhà nước sẽ xây dựng cơ cấu, phân bổ dự toán mức độ thu NSNN khác nhau.
Thứ ba, thu NSNN của hệ thống QLNN địa phương trực thuộc tỉnh được thi hành và triển khai trên cơ sở các luật định, đi liền với quyền lực chính trị của nhà nước. Thứ tư, phần lớn các khoản thu NSNN không được hoàn trả lại trực tiếp cho đối tượng nộp. Thay vào đó, chính quyền sẽ hoàn trả gián tiếp qua việc cung cấp các loại hàng hóa, dịch vụ công cộng nhằm mục đích nâng cao phúc lợi xã hội. Vai trò thu ngân sách nhà nước của hệ thống quản lý nhà nước địa phương trực thuộc tỉnh Thu NSNN đóng một vai trò rất quan trọng trong bất kỳ hoạt động nào của nhà nước.
Vai thu NSNN của hệ thống QLNN địa phương trực thuộc tỉnh chủ yếu được thể hiện qua các nội dung sau: Thứ nhất, thu NSNN bảo đảm nguồn vốn để thực hiện các nhu cầu chi tiêu của hệ thống QLNN địa phương, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Vì NSNN được xem là quỹ tiền tệ tập trung quan trọng nhất của Nhà nước và được dùng để giải quyết nhung nhu cầu chung của Nhà nước về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội, hành chính, an ninh và quốc phòng. Xuất phát từ vai trò này, việc tăng thu NSNN là rất cần thiết, được xem là một nhiệm vụ hàng đầu của hoạt động tài chính vĩ mô. Các khoản thu của NSNN chủ yếu bắt nguồn từ khu vực sản 8 xuất kinh doanh dịch vụ dưới hình thức thuế.
Do vậy, về lâu dài để tăng nguồn thu NSNN phải tăng sản phẩm quốc dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của địa phương. Thứ hai, thông qua thu NSNN, hệ thống QLNN địa phương thực hiện việc quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội nhằm hạn chế những mặt tiêu cực, phát huy những mặt tích cực của nó và làm cho nó hoạt động ngày càng hiệu quả hơn. Với công cụ thuế, hệ thống QLNN địa phương có thể can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế nhằm định hướng cơ cấu kinh tế, định hướng tiêu dùng. Thứ ba, thu NSNN còn đóng vai trò quan trọng trong vấn đề điều tiết thu nhập của các cá nhân trong xã hội.
Thông qua công cụ thuế, nhà nước đánh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hoặc đánh thuế cao đối với các hàng hóa xa xỉ, hàng hóa không khuyến khích tiêu dùng… 1. Phân cấp thu ngân sách nhà nước của hệ thống quản lý nhà nước địa phương trực thuộc tỉnh Đối với tổ chức thu NSNN của hệ thống QLNN địa phương trực thuộc tỉnh thì hoạt động thu NSNN phải tuân thủ theo sự chỉ đạo của các cơ quan quản lý NSNN từ Trung ương như Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan,… và các cơ quan quản lý nhà nuớc cấp tỉnh như Sở Tài chính, Cục Thuế, Cục Hải quan, KBNN tỉnh… Trong đó phân chia trách nhiệm như sau: - UBND địa phương trực thuộc tỉnh chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển KT – XH địa phương và quản lý chung đối với tài chính và hoạt động thu NSNN địa phương. - Phòng TC- KT là cơ quan chuyên môn thuộc UBND địa phương trực thuộc tỉnh, tham mưu, giúp UBND thực hiện QLNN về lĩnh vực tài chính, tài sản, ngân sách. Phòng TC–KH còn có chức năng hướng dẫn các đơn vị cấp dưới (xã, phường, thị trấn) xây dựng dự toán hằng năm; xây dựng dự toán ngân sách huyện địa phương trực thuộc tỉnh theo hướng dẫn của bộ phận tài chính cấp trên; đồng thời bảo đảm và điều tiết tiến độ sao cho đảm bảo kịp thời công tác quản lý thu NS.
Bên cạnh đó, phòng TC – KT cũng cần phối hợp với cơ quan thu thuế trên địa bàn để tổ chức công tác thu NSNN được triển khai đúng quy trình, tránh xảy ra sai phạm trong quá trình thực hiện. - Chi cục thuế địa phương trực thuộc tỉnh là tổ chức thuộc Cục thuế cấp tỉnh, chi cục thuế đóng vai trò chủ chốt trong việc thực hiện thu NSNN. Chi cục thuế có chức năng thực hiện thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định của 9 pháp luật. - KBNN được mở tài khoản tại các NHNN Việt Nam và các NHTM để tập trung các khoản thu NSNN; KBNN giúp hạch toán đầy đủ, kịp thời các khoản thu và tiến hành điều tiết các khoản thu theo quy định của pháp luật.
Các cơ quan quản lý thu NS trên địa bản xã (phường, thị trấn) là UBND xã (phường, thị trấn) có nhiệm vụ thực hiện các công tác trong quản lý thu như thực hiện dự toán, lập quyết toán theo năm tài chính, bên canh đó UBND xã cũng có nhiệm vụ là kiểm tra, giám sát Đội thuế của xã khi thực hiện công tác thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác. Khái niệm, mục tiêu quản lý thu ngân sách nhà nước của hệ thống quản lý nhà nước địa phương trực thuộc tỉnh 1. Khái niệm quản lý thu ngân sách nhà nước của hệ thống quản lý nhà nước địa phương trực thuộc tỉnh Theo Võ Hồng Phúc (2017): “Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất”[22,tr21]. Nghĩa là quản lý là tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu mong muốn.
Đó là sự chỉ đạo điều hành để thực hiện quyền lực nhà nước trong việc tổ chức và điều chỉnh các quan hệ KTXH. Đồng Thị Vân Hồng (2010) cho rằng: “Quản lý NSNN được hiểu là quá trình tác động của cơ quan quản lý nhà nước đến NSNN, nhằm làm cho hoạt động của NSNN đúng theo pháp luật, kích thích tăng trưởng, phát triển kinh tế từ đó bồi dưỡng nguồn thu và sử dụng tiết kiệm có hiệu quả các khoản chi NSNN đảm bảo sự cân đối giữa thu, chi NSNN.