Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU, CHI TÀI CHÍNH Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG VÀ TRUNG CẤP NGHỀ CÔNG LẬP 1. Đă ̣c điể m hoa ̣t đô ̣ng và vai trò của các trường cao đẳ ng và trung cấ p nghề công lâ ̣p trong hê ̣ thố ng giáo du ̣c 1. Đă ̣c điểm hoa ̣t động của các trường cao đẳ ng và trung cấ p nghề công lập - Về người ho ̣c: Trong thời đại hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, hệ thống đào tạo nghề ở Việt Nam đang có nhiều đổi mới. Việc phát triển nguồn nhân lực cao đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước là một chiến lược quốc gia trong toàn bộ chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo.
Hệ thống giáo dục nghề nghiệp có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực mà trọng tâm là việc nâng cao chất lượng và hiệu quả nguồn nhân lực. Theo số liệu Báo cáo điều tra lao động việc làm quý 3 năm 2013 Tổng cục Thống kê, hiện cả nước có hơn 53 triệu dân số trong độ tuổi lao động, nhưng số người có trình độ, tay nghề rất hạn hẹp (chỉ khoảng 30%). Trong đó trên 34 triệu người trong độ tuổi lao động chưa được đào tạo nghề. Trong khi đó tại Báo cáo chính trị Đại hội Đảng công sản việt nam lần thứ X năm 2006 đã nêu: “Phát triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, khu chế xuất các vùng kinh tế trọng điểm và cho xuất khẩu lao động.
Mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, phát triển trung tâm dạy nghề quận huyện. Tạo chuyển biến căn bản về chất lượng Doanh nghiệp tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới. Đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích phát triển các hình thức doanh nghiệp, đa dạng, linh hoạt. Vì vậy hiện nay nhu cầu đào tạo nghề cho người lao động đang trở thành một vấn đề cấp bách để đáp ứng nhu cầu lao động có chất lượng phục vụ quá trình đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Mục tiêu tổng quát phát triển dạy nghề là đến năm 2020 dạy nghề đáp ứng nhu cầu về nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh với trình độ cao, lành nghề, đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, đáp ứng yêu cầu về phẩm chất, nhân cách, năng lực nghề nghiệp và thể chất phục vụ cho các ngành kinh tế, vùng kinh tế, đặc biệt là các ngành kinh tế mũi nhọn, vùng kinh tế trọng điểm và xuất khẩu lao động; mở rộng quy mô dạy nghề cho người lao động, phục vụ có hiệu quả cho chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn, tạo nhiều việc làm có thu nhập cao, cải thiện đời sống cho người lao động. Đến năm 2020 trong lực lượng lao động có 27,5 triệu người được đào tạo nghề, trong đó khoảng 10 triệu lao động nông thôn; nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 55%, trong đó 28%-30% có trình độ từ trung cấp nghề trở lên; khoảng 90% số người học nghề có việc làm và 70% có việc làm đúng với nghề được đào tạo. Trong giai đoạn 2011-2020 dạy nghề phải thực hiện được hai nhiệm vụ chiến lược cơ bản, đó là: đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật trực tiếp trong sản xuấ t, kinh doanh có trình độ cao, đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề, cấp trình độ và có chất lượng cho các ngành, vùng kinh tế, đặc biệt là các ngành kinh tế mũi nhọn, vùng kinh tế trọng điểm, phục vụ có hiệu quả cho công nghiệp hoá đất nước và hội nhập. Mở rộng quy mô dạy nghề cho người lao động ở nông thôn nhằm đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông nghiệp, nông thôn, tạo nhiều việc làm, tăng thu nhâ ̣p, giảm nghèo vững chắc, đảm bảo an sinh xã hội.
Nhiệm vụ này đã được cụ thể hoá bằng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án dạy nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 - Về quá trình da ̣y học: Quá trình dạy nghề là nhiệm vụ trọng tâm, nằm trong công tác quản lý giáo dục nói chung và quản lí nhà trường nói riêng. Chủ thể quản lí có thể thực hiện quản lí một cách trực tiếp hay gián tiếp các hoạt động đào tạo, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục là.“Đào tạo con người Việt nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006). Đào tạo nghề được kết hợp chặt chẽ giữa giảng dạy lý thuyết với rèn luyện kỹ năng thực hành, để sau khi tốt nghiệp có thể hành nghề. Đào tạo nghề được tiến hành một cách khoa học, đảm bảo tính hệ thống, hợp lý, toàn diện trên cả 3 phương diện: Kiến thức; kỹ năng; kỹ xảo; thái độ lao động và đạo đức nghề nghiệp.
Trong quá trình đào tạo, người học được học tại cơ sở đào tạo, được học theo khung chương trình do Nhà nước quy định. Kết quả sau một khóa đào tạo phải đạt được trình độ nhất định của một hay nhiều nghề, trình độ đó được kiểm tra, đánh giá và được cấp giấy chứng nhận, chứng chỉ hay bằng nghề theo quy định của hệ thống văn bằng. Quá trình truyền nghề từ người này sang người khác hoặc tự học, tự tích lũy kinh nghiệm trong thực tiễn không được gọi là đào tạo nghề. Do sự khác nhau về chương trình đào tạo giữa các trường chuyên nghiệp (70% lý thuyết, 30% thực hành) và các trường nghề (30% lý thuyết, 70% thực hành) cho nên việc quản lí hoạt động đào tạo trong các trường nghề cần phải đảm bảo công tác tổ chức quá trình dạy - học một cách khoa học và hiệu quả, tạo môi trường lao động sư phạm lành mạnh, cần phải quản lý công tác giảng dạy ở các xưởng thực hành để đảm bảo yêu cầu đào tạo, đặc biệt là quản lí công tác tổ chức đánh giá chất lượng dạy - học, công tác tự kiểm định trong nhà trường.
- Về nô ̣i dung dạy ho ̣c: Điều 34. Khoản 1 của Luật giáo dục năm 2005 quy định yêu cầu về nội dung giáo dục nghề nghiệp như sau: “Nội dung giáo dục nghề nghiệp phải tập trung đào tạo năng lực thực hành nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khoẻ, rèn luyện kỹ năng theo yêu cầu đào tạo của từng nghề, nâng cao trình độ học vấn theo yêu cầu đào tạo” (Luật giáo dục, 2005). Điều này có nghĩa là, nội dung đào tạo nghề bao gồm các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, đòi hỏi người học phải nắm vững. Trên cơ sở đó hình thành thế giới quan về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp để người học bước vào cuộc sống và lao động để thực hiện được mục đích giáo dục nghề nghiệp nói riêng và thực hiện nhiệm vụ dạy học nói chung.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Trong đào tạo nghề, việc đào tạo phải gắn với nhu cầu lao động mà trước hết là gắn với người sử dụng lao động (các doanh nghiệp). Thực tế cho thấy, bao giờ cũng có độ trễ về đào tạo so với nhu cầu sử dụng nên trong đào tạo nghề, có thể khắc phục bằng cách chia nhỏ các giai đoạn đào tạo (đào tạo theo modul) hay thiết kế các modul thích ứng… Đối với người lao động, việc đào tạo nghề và đào tạo lại có thể tiến hành trong bất kỳ giai đoạn nào của cuộc đời. Hầu hết các học viên sau khi hoàn thành các chương trình giáo dục dạy nghề (GDNN) đều hy vọng sẽ có cơ hội tiếp tục được đào tạo tại nơi làm việc hay trong các cơ sở đào tạo tư thục hoặc công lập. Vì vậy, việc quản lý chương trình và nội dung đào tạo phải đảm bảo đầu vào linh hoạt và các cơ hội đầu ra trong suốt cuộc đời.
Các học viên tốt nghiệp các chương trình GDNN mong muốn thu nhận được những kỹ năng mới thông qua việc đào tạo lại, cần có các cơ hội học tập suốt đời. Một số đề xuất nhằm tạo điều kiện cho hướng đi này bao gồm: thiết kế các khóa học theo mô hình modul, giới thiệu phương pháp đánh giá dựa trên năng lực, sử dụng hình thức học tập tự điều chỉnh nhằm đáp ứng các nhu cầu của cá nhân và công nhận những kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng được tích luỹ trước đó của người được đào tạo. - Về chương trình da ̣y ho ̣c: Chương trình đào tạo là bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo. Hoạt động đó có thể chỉ là một khóa học kéo dài vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm.
Nó cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ ra những gì có thể trông đợi ở người học sau khi kết thúc khóa học. Nó phác họa quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo và cũng chỉ ra phương pháp đào tạo, hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập. tất cả được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ. Theo Nghị định 43/NĐ-CP: Chương trình đào tạo là văn bản cụ thể hóa mục tiêu giáo dục, quy định phạm vi mức độ và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp, hình thức hoạt động, giáo dục, chuẩn mực và cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và toàn bộ một bậc học, cấp học, trình độ đào tạo (Chính phủ, 2006).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Như vậy, nội dung chương trình đào tạo là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của quá trình đào tạo. Để quá trình đào tạo đạt chất lượng cũng như nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động thì yếu tố đầu tiên và cơ bản là cơ sở đào tạo phải xác định đúng mục tiêu cũng như nội dung chương trình đào tạo.