Luận văn ThS: Quản lý thu BHXH Tam Nông Đồng Tháp, thực trạng và giải pháp

Nghiên cứu chuyên sâu về quản lý thu bảo hiểm xã hội tại huyện Tam Nông, Đồng Tháp. Bài viết phân tích thực trạng, đánh giá thách thức và đề xuất giải pháp

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

127
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý thu BHXH tại huyện Tam Nông Đồng Tháp

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là trụ cột an sinh xã hội quan trọng, đảm bảo quyền lợi cho người lao động khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc hết tuổi lao động. Tại huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, công tác quản lý thu BHXH bắt buộc đóng vai trò then chốt trong việc mở rộng diện bao phủ và đảm bảo tính bền vững của quỹ. BHXH huyện Tam Nông chịu trách nhiệm thu, quản lý và theo dõi việc đóng BHXH của các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn. Quá trình này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan BHXH, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp. Hệ thống pháp luật về BHXH ngày càng hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho công tác quản lý. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai tại vùng nông thôn như Tam Nông vẫn gặp nhiều thách thức. Tỷ lệ tham gia BHXH của người lao động còn thấp so với tiềm năng. Nhiều lao động trong khu vực phi chính thức chưa tiếp cận được chính sách. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BHXH cần được đẩy mạnh hơn nữa. Nghiên cứu tổng quan giúp hiểu rõ bối cảnh và đặt nền tảng cho phân tích thực trạng.

1.1. Khái niệm và vai trò của bảo hiểm xã hội bắt buộc

BHXH bắt buộc là loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, áp dụng với người lao động và người sử dụng lao động theo quy định pháp luật. Người lao động và đơn vị sử dụng lao động phải đóng BHXH hàng tháng dựa trên tiền lương. Quỹ BHXH bắt buộc chi trả các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất. Vai trò của BHXH bắt buộc rất lớn. Nó giúp người lao động ổn định cuộc sống khi gặp rủi ro. Đồng thời giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong chăm sóc an sinh. BHXH bắt buộc cũng góp phần công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo.

1.2. Cơ chế quản lý thu BHXH theo quy định hiện hành

Quản lý thu BHXH bao gồm các hoạt động: lập danh sách đối tượng tham gia, xác định mức đóng, thu tiền đóng và theo dõi việc chấp hành. Cơ quan BHXH có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc đơn vị sử dụng lao động đóng đúng, đóng đủ. Người sử dụng lao động phải khai báo lao động, mức lương làm căn cứ đóng BHXH. Mức đóng hiện hành chiếm 32% quỹ lương, trong đó người lao động đóng 10,5% và người sử dụng lao động đóng 21,5%. Hệ thống quản lý sử dụng công nghệ thông tin để lưu trữ, đối chiếu dữ liệu. Quy trình này đảm bảo minh bạch và dễ dàng kiểm soát việc thu nộp.

II. Thực trạng quản lý thu BHXH tại huyện Tam Nông giai đoạn 2017 2019

Giai đoạn 2017-2019, công tác quản lý thu BHXH tại huyện Tam Nông đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Số lượng đơn vị tham gia BHXH bắt buộc tăng đều qua các năm. Năm 2017 có 165 đơn vị tham gia, đến năm 2019 con số này tăng lên 192 đơn vị. Tương ứng, số lượng lao động tham gia cũng tăng từ 15.840 người năm 2017 lên 17.715 người năm 2019. Tỷ lệ lao động tham gia BHXH cải thiện từ 51,48% lên 57,51%. Tổng số thu BHXH bắt buộc năm 2017 đạt 187.964 triệu đồng, năm 2019 ước đạt 231.456 triệu đồng. Tuy nhiên, kết quả này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Số lao động làm việc thực tế tại các doanh nghiệp cao hơn nhiều so với số đăng ký tham gia BHXH. Tình trạng trốn đóng, nợ đọng BHXH vẫn diễn ra ở nhiều đơn vị. Một số doanh nghiệp chỉ đóng BHXH cho một phần nhân viên, bỏ qua lao động thời vụ hoặc hợp đồng ngắn hạn. Công tác kiểm tra, thanh tra chưa thường xuyên, chưa đủ sức răn đe. Dữ liệu quản lý còn phân tán, chưa đồng bộ hoàn toàn giữa các cơ quan liên quan.

2.1. Số liệu thu BHXH bắt buộc và xu hướng tăng trưởng

Số liệu thống kê cho thấy xu hướng tăng trưởng tích cực trong thu BHXH bắt buộc tại Tam Nông. Năm 2017, tổng thu đạt 187.964 triệu đồng. Năm 2018 tăng lên 207.328 triệu đồng. Năm 2019 ước đạt 231.456 triệu đồng. Tỷ lệ tăng trưởng trung bình đạt khoảng 11% mỗi năm. Đóng góp vào kết quả này có nhiều yếu tố. Số lượng doanh nghiệp mới thành lập tăng. Mức lương tối thiểu vùng được điều chỉnh tăng hàng năm. Công tác tuyên truyền được đẩy mạnh, nâng cao nhận thức người lao động. Tuy nhiên, tốc độ tăng thu chưa bắt kịp tốc độ phát triển kinh tế địa phương.

2.2. Tỷ lệ tham gia BHXH và khoảng trống bao phủ

Tỷ lệ lao động tham gia BHXH tại Tam Nông tăng đều nhưng vẫn ở mức khiêm tốn. Năm 2017 đạt 51,48%, năm 2018 đạt 54,60%, năm 2019 đạt 57,51%. Nghĩa là gần một nửa số lao động thuộc diện bắt buộc chưa tham gia BHXH. Khoảng trống bao phủ tập trung ở nhóm lao động phi chính thức, lao động thời vụ và lao động tại các cơ sở kinh doanh nhỏ. Nhiều chủ sử dụng lao động cố tình không đăng ký đầy đủ nhân viên. Số liệu thực tế cho thấy số lao động làm việc tại các công ty cao hơn rất nhiều so với số đang tham gia BHXH. Đây là vấn đề chung của tỉnh Đồng Tháp và cả nước.

III. Nguyên nhân hạn chế và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thu BHXH

Nhiều nguyên nhân dẫn đến hiệu quả quản lý thu BHXH tại Tam Nông còn hạn chế. Thứ nhất, nhận thức của một bộ phận người lao động và người sử dụng lao động về quyền lợi BHXH chưa đầy đủ. Thứ hai, năng lực cán bộ quản lý thu tại cơ sở còn yếu, thiếu kinh nghiệm xử lý tình huống phức tạp. Thứ ba, hệ thống cơ sở dữ liệu chưa đồng bộ, gây khó khăn trong kiểm tra, đối chiếu. Thứ tư, chế tài xử lý vi phạm chưa đủ mạnh để răn đe. Thứ năm, đặc điểm kinh tế nông nghiệp của huyện tạo ra nhiều lao động thời vụ, khó quản lý. Để nâng cao hiệu quả, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Đẩy mạnh tuyên truyền bằng hình thức phù hợp với đặc thù địa phương. Tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi trốn đóng. Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý đối tượng và thu nộp. Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ. Phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ngành trong thực hiện chính sách.

3.1. Nguyên nhân chính gây hạn chế hiệu quả thu BHXH

Nguyên nhân đầu tiên là nhận thức hạn chế. Nhiều lao động không biết quyền lợi khi tham gia BHXH. Người sử dụng lao động coi đóng BHXH là gánh nặng chi phí. Nguyên nhân thứ hai là năng lực cán bộ. Đội ngũ quản lý thu tại huyện chưa được đào tạo bài bản, thiếu kỹ năng kiểm tra doanh nghiệp. Nguyên nhân thứ ba là cơ chế phối hợp. Sự liên kết giữa BHXH, thuế, lao động chưa chặt chẽ, gây ra lỗ hổng quản lý. Nguyên nhân thứ tư là đặc thù kinh tế. Khu vực nông nghiệp có nhiều lao động tự do, khó xác định đối tượng bắt buộc.

3.2. Các giải pháp cụ thể để tăng cường quản lý thu

Giải pháp thứ nhất, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền. Sử dụng loa truyền thanh, tờ rơi và mạng xã hội để tiếp cận lao động nông thôn. Giải pháp thứ hai, tăng cường thanh tra chuyên đề tập trung vào doanh nghiệp nợ đọng kéo dài. Giải pháp thứ ba, hiện đại hóa hệ thống quản lý. Áp dụng phần mềm quản lý đối tượng kết nối dữ liệu với cơ quan thuế. Giải pháp thứ tư, xây dựng cơ chế thưởng, phạt rõ ràng khuyến khích chấp hành pháp luật BHXH. Giải pháp thứ năm, đào tạo cán bộ thường xuyên về kỹ năng nghiệp vụ và pháp luật mới.

IV. Kết luận và kiến nghị áp dụng vào thực tiễn quản lý thu BHXH

Nghiên cứu về quản lý thu BHXH tại huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp cho thấy bức tranh toàn cảnh với cả kết quả đạt được và thách thức còn tồn tại. Giai đoạn 2017-2019, tỷ lệ tham gia BHXH tăng từ 51,48% lên 57,51%, tổng thu tăng đều hàng năm. Tuy nhiên, gần một nửa lao động thuộc diện bắt buộc vẫn chưa tham gia. Tình trạng trốn đóng, nợ đọng BHXH chưa được giải quyết triệt để. Các nguyên nhân chính bao gồm nhận thức hạn chế, năng lực cán bộ chưa đáp ứng và cơ chế phối hợp lỏng lẻo. Từ phân tích, đề xuất các nhóm giải pháp trọng tâm: tăng cường tuyên truyền phù hợp đặc thù nông thôn, đẩy mạnh thanh tra xử lý vi phạm, ứng dụng công nghệ thông tin và đào tạo nâng cao năng lực cán bộ. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn đối với BHXH huyện Tam Nông và các địa phương có điều kiện tương tự. Việc áp dụng các giải pháp này đòi hỏi sự cam kết của cả hệ thống chính trị, từ cấp huyện đến xã, phường.

4.1. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực tế về tình hình thu BHXH tại huyện Tam Nông giai đoạn 2017-2019. Các số liệu phân tích giúp đánh giá chính xác hiệu quả công tác quản lý thu. Kết quả nghiên cứu hỗ trợ ban lãnh đạo BHXH huyện xây dựng kế hoạch phát triển đối tượng. Các giải pháp đề xuất có tính khả thi cao, phù hợp điều kiện địa phương. Nghiên cứu cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho các huyện nông thôn khác trong tỉnh Đồng Tháp.

4.2. Kiến nghị áp dụng và hướng phát triển

Kiến nghị BHXH huyện Tam Nông ưu tiên ba nhóm giải pháp. Nhóm một: đẩy mạnh tuyên truyền bằng kênh truyền thông phù hợp nông thôn. Nhóm hai: tăng cường thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp có nguy cơ vi phạm cao. Nhóm ba: đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin quản lý đối tượng. Về lâu dài, cần đề xuất cấp có thẩm quyền tăng chế tài xử phạt hành vi trốn đóng. Đồng thời kiến nghị xây dựng chính sách BHXH linh hoạt cho lao động nông nghiệp thời vụ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Quản lý thu bảo hiểm xã hội tại huyện tam nông tỉnh đồng tháp thực trạng và giải pháp

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Các quan điểm cơ bản về bảo hiểm xã hội Khi tiến hành tổ chức, thực hiện chính sách BHXH, các quốc gia đều lựa chọn hình thức, phương thức, cơ chế và mức độ thoả mãn các nhu cầu BHXH phù hợp với tập quán, khả năng trang trải và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia mình, đồng thời cũng nhận thức thống nhất các quan điểm cơ bản về BHXH sau đây: 1. Chính sách bảo hiểm xã hội là một bộ phận cấu thành và bộ phận quan trọng nhất trong chính sách xã hội Mục đích chủ yếu của BHXH là đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình họ trước những rủi ro xã hội làm mất hoặc giảm thu nhập của NLĐ.

Thực chất, Bảo hiểm xã hội là một chính sách đối với con người, nhằm đáp ứng một trong những quyền và nhu cầu đương nhiên của con người, nhu cầu an toàn về việc làm, an toàn lao động, an toàn xã hội. Từ quan điểm này cho thấy, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận tính xã hội cao của BHXH, do đó Bảo hiểm xã hội không được coi là một hoạt động lợi nhuận mà là một hoạt động phi lợi nhuận, mang tính nhân văn sâu sắc. Ở Việt Nam, Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách trụ cột, quan trọng của Đảng và Nhà nước trong hệ thống ASXH. Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm tham gia Bảo hiếm xã hội cho người lao động.

Người sử dụng lao động chính là các tổ chức, đơn vị, các doanh nghiệp và các cá nhân có thuê mướn lao động. Họ có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ BHXH và có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với NLĐ mà họ đang sử dụng theo đúng quy định của luật pháp. Làm như vậy, người SDLĐ sẽ tránh được những thiệt hại kinh tế do phải chi ra khoản tiền lớn khi có rủi ro 10 xảy ra đối với NLĐ mình đang thuê mướn; đồng thời hạn chế tình trạng tranh chấp, kiến tạo mối quan hệ tốt hơn giữa chủ - thợ, tạo ra sự yên tâm và tích cực lao động sản xuất cho NLĐ. Người lao động được bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi đối với bảo hiểm xã hội Tất cả NLĐ đều được bình đẳng về nghĩa vụ đóng góp và quyền lợi được trợ cấp BHXH.

Khi các rủi ro không mong muốn xảy ra với NLĐ thì họ là người trực tiếp chịu tác động của những rủi ro đó. Do vậy, nếu muốn được hưởng BHXH tức được nhiều người khác hỗ trợ cho mình, chia sẻ rủi ro cùng với mình thì trước hết tự mình phải gánh chịu một phần rủi ro đó. Điều đó có nghĩa bản thân NLĐ phải có trách nhiệm và nghĩa vụ tham gia đóng góp BHXH để tự mình bảo hiểm cho mình. Mức trợ cấp Bảo hiểm xã hội phụ thuộc vào các yếu tố Mức tiền lương lúc đang đi làm của người lao động; Mức độ suy giảm khả năng lao động (tỷ lệ thương tật); Ngành nghề, môi trường công tác; Thời gian công tác và thời gian đóng góp BHXH; Tuổi thọ bình quân của NLĐ.

Tuy nhiên, về nguyên tắc, ai đóng cao hơn và thời hạn đóng lâu hơn sẽ được hưởng trợ cấp cao hơn và dài hơn, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức lương lúc đang đi làm, nhưng thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu cho người được hưởng. Quan điểm này vừa phản ánh nguyên tắc phân phối lại quỹ BHXH cho những lao động tham gia BHXH vừa phản ánh tính cộng đồng xã hội. Những vấn đề chung về quản lý thu bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm quản lý thu bảo hiểm xã hội Khi nói đến quản lý thu BHXH là nói đến hàng loạt quan hệ, bao gồm quan hệ giữa: người lao động, người sử dụng lao động, cơ quan BHXH và Nhà nước.

Trong mối quan hệ trên đây, thì người sử dụng lao động và người lao động là đối tượng được quản lý. Nhà nước là chủ thể duy nhất điều tiết và quản lý quỹ BHXH. Quản lý thu BHXH là sự tác động của Nhà nước thông qua các quy định của Pháp luật, mang tính pháp lý bắt buộc các bên tham gia BHXH phải tuân thủ thực 11 hiện; trong đó cơ quan Bảo hiểm xã hội sử dụng các biện pháp nghiệp vụ và các phương pháp đặc thù tác động trực tiếp và gián tiếp vào đối tượng đóng bảo hiểm xã hội để đạt mục tiêu đề ra. Đặc điểm quản lý thu bảo hiểm xã hội Quản lý thu BHXH của tổ chức hay đơn vị SDLĐ mà trình độ quản lý, ngành nghề, văn hóa, ngôn ngữ, chuyên môn, nghiệp vụ và nhận thức về pháp luật BHXH ở các tổ chức hay đơn vị SDLĐ là khác nhau.

Quản lý thu BHXH đối với đơn vị SDLĐ có số lượng đối tượng quản lý thu BHXH lớn: số lượng doanh nghiệp nhiều, hoạt động ở các lĩnh vực của nền kinh tế gây ra những khó khăn nhất định cho công tác quản lý thu BHXH. Vai trò quản lý thu bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội có nội hàm rất rộng và phức tạp, bao gồm thu, chi, thực hiện các chế độ dài hạn, ngắn hạn; đối tượng và phạm vi áp dụng liên quan đến đời sống của người lao động làm công ăn lương; thực hiện tốt các chế độ BHXH là đảm bảo đời sống kinh tế, thu nhập cho NLĐ có tham gia BHXH, được coi như là đầu ra của BHXH và thu BHXH được coi là yếu tố đầu vào của BHXH. Quản lý thu BHXH là khâu đầu tiên trong việc xác lập mối quan hệ về BHXH giữa người sử dụng lao động, người lao động. Mối quan hệ ấy xác định trách nhiệm và quyền của các bên liên quan; đây là mối quan hệ quan trọng, vì có thực hiện mối quan hệ này thì mới có cơ sở để tổ chức thu BHXH, hình thành quỹ BHXH, thực hiện chi trả các chế độ BHXH cho người lao động.

Bảo hiểm xã hội thực hiện trên nguyên tắc tương trợ, hỗ trợ cộng đồng, lấy số đông bù số ít nên khi tham gia BHXH người lao động sẽ được san sẻ rủi ro khi gặp tai nạn lao động, ốm đau, thai sản, tử tuất. Người lao động khi nghỉ hưu sẽ có một khoản thu nhập để duy trì cuộc sống, sẽ đỡ gánh nặng cho gia đình, góp phần cho từng tế bào của xã hội ổn định, bền vững là cơ sở tạo lập nên một xã hội ổn định, bền vững. Khi người lao động có cuộc sống được đảm bảo, sẽ hạn chế được phân biệt đối xử, giảm bớt được sự phân cách giàu nghèo trong xã hội. Thông qua hoạt động BHXH, Nhà nước sẽ là trung gian đứng ra điều chỉnh thu nhập, đảm bảo hài hoà lợi ích và công bằng cho NLĐ trong mọi thành phần kinh tế.

Nói cách khác, 12 NLĐ sẽ được công bằng hơn về quyền lợi, khi Nhà nước thực hiện chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập thông qua chính sách BHXH, nhất là trong thời điểm hiện tại thu nhập của người lao động trực tiếp còn thấp hơn các khu vực khác. Mục đích quản lý thu bảo hiểm xã hội Thứ nhất, xác lập rõ ràng trách nhiệm và quyền của các bên tham gia BHXH, đó là: người sử dụng lao động, người lao động và cơ quan BHXH; phân định rõ chức năng quản lý nhà nước với chức năng hoạt động của BHXH. Thứ hai, đảm bảo cho yếu tố đầu vào (khoản thu) đủ khả năng thực hiện quá trình tái sản xuất xã hội, tức là có thu đủ, thu kịp thời mới đảm bảo chi trả chế độ cho NLĐ, góp phần ổn định đời sống của NLĐ trong quá trình lao động không may bị rủi ro như ốm đau, tử tuất, nghỉ hưu, cũng như khi về già. Thứ ba, không bỏ sót nguồn thu, đảm bảo nguồn thu BHXH được sử dụng đúng mục đích; đồng thời làm cho nguồn thu BHXH liên tục tăng trưởng, quản lý chặt chẽ.

Thứ tư, đảm bảo các quy định về thu BHXH được thực hiện có hiệu quả, kịp thời khắc phục được tính bình quân nhưng vẫn bảo đảm tính xã hội thông qua việc điều tiết, chia sẻ rủi ro. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay, quản lý thu BHXH lại càng có ý nghĩa sâu sắc trong việc phòng ngừa, ngăn chặn những lạm dụng của NSDLĐ với NLĐ nhất là việc thuê mướn, trả tiền lương, tiền công bất bình đẳng. Nguyên tắc quản lý thu bảo hiểm xã hội Thứ nhất: Thu đúng, đủ, kịp thời Thu đúng, là đúng đối tượng, đúng tiền lương, tiền công, mức lương và đúng thời gian quy định: mọi NLĐ khi có HĐLĐ hoặc giao kết lao động theo quy định là đối tượng đóng BHXH bắt buộc. Việc xác định đúng đối tượng, mức lương làm căn cứ đóng BHXH của NLĐ là cơ sở quan trọng để đảm bảo thu đúng; việc thu đúng còn phụ thuộc vào tính chất hoạt động của đơn vị SDLĐ để xác định đúng mức thu, đối tượng, phương thức thu.

Thu đủ, là thu số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc và số tiền phải đóng BHXH của NLĐ, NSDLĐ. 13 Thu kịp thời, là kịp về thời gian khi có phát sinh quan hệ lao động giữa người SDLĐ và NLĐ, tiền lương mà những quan hệ đó thuộc đối tượng, phạm vi tham gia BHXH. Chế độ, chính sách BHXH thường xuyên phải thay đổi để phù hợp với từng thời kỳ, ở mỗi thời điểm thay đổi đó cần phải tổ chức thực hiện thu BHXH của người SDLĐ và NLĐ đảm bảo kịp thời, không để nợ tiền thu, không bỏ sót lao động tham gia BHXH. Thứ hai: Tập trung, thống nhất, công khai Cơ chế thu BHXH được pháp luật quy định nhất quán và thống nhất, nguồn thu bảo hiểm xã hội tập trung quản lý, điều tiết ở Trung ương là Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Việc tham gia BHXH của NLĐ, người SDLĐ đảm bảo công khai, công bằng ở các thành phần kinh tế trong xã hội. Các đơn vị tham gia BHXH đều phải công khai tổng số lao động phải đóng BHXH và số tiền phải trích đóng theo đúng quy định, có sự thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của cơ quan Nhà nước và giám sát của các cơ quan chức năng. Tính công bằng được thể hiện trong việc trích nộp thu Bảo hiểm xã hội, không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, tức là đều có tỷ lệ phần trăm thu bảo hiểm xã hội như nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ