Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý TBDH ở trường THCS. + Chương 2: Thực trạng quản lý TBDH tại các trường THCS trên địa bàn huyện Hiệp Đức tỉnh Quảng Nam. 5 + Chương 3: Biện pháp quản lý TBDH tại các trường THCS trên địa bàn huyện Hiệp Đức tỉnh Quảng Nam. - Kết luận và khuyến nghị - Phụ lục - Tài liệu tham khảo 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ngoài nước Vấn đề thiết bị dạy học và quản lý thiết bị dạy học ở trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ lâu. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu dưới đây. Bàn về thiết bị dạy học đa phương tiện, Qing và các cộng sự (2010) cho rằng, việc áp dụng thiết bị dạy học đa phương tiện cho phép giáo viên sử dụng máy tính đa phương tiện và các thiết bị khác để tương tác giữa người và máy nhằm hoàn thành mục tiêu dạy học [53].
Nghiên cứu vai trò của thiết bị và phương tiện trong dạy học ban đầu về robot của David và cộng sự (2012) đã cho thấy, các khái niệm và mục tiêu giáo dục phụ thuộc đáng kể vào việc lựa chọn thiết bị được sử dụng trong chương trình dạy học robot [51]. Còn Olufunke (2012) lại nhấn mạnh đến vai trò của các thiết bị dạy học đối với môn Vật lý ở trường THCS.K ết quả cho thấy việc sử dụng tối ưu thiết bị thí nghiệm Vật lý có hiệu quả trong việc giảng dạy bộ môn này. Nghiên cứu kết luận rằng phòng thí nghiệm khoa học với đầy đủ trang thiết bị là yếu tố quyết định chất lượng đầu ra của môn Vật lý ở các trường THCS [52]. Nghiên cứu của Wakuma (2018) đã đánh giá tác động của thiết bị thể thao trong việc tạo điều kiện cho quá trình dạy học giáo dục thể chất ở trường trung học Babala trong trường hợp của Jima Rare wearda ở vùng Horo Guduru Wollega thuộc bang Oromia.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, có những thách thức về cung cấp thiết bị dạy học thể chất tại địa bàn nghiên cứu. Ban giám hiệu nhà trường thiếu chú trọng, thiếu sân thể thao rèn luyện sức khỏe cho học sinh cũng như giáo viên, thiếu sách tham khảo trong thư viện, thiếu giáo viên chuyên môn về khoa học thể dục thể thao và thiếu trang thiết bị thể thao đầy đủ như bóng, sân thể dục, quần vợt và bóng đá là vấn đề lớn của trường trung học tại Babala. Nghiên cứu cũng đề xuất các khuyến nghị trong công tác quản lý, đặc biệt là tăng cường các thiết bị dạy học thể chất [55]. Trong khi đó, nghiên cứu của Sayan và cộng sự (2020) đã nhấn mạnh đến việc sử dụng thiết bị dạy học trong việc giảng dạy môn Sinh học ở trường phổ thông.
Các tác giả cho rằng, giáo viên dạy sinh học nên chọn thiết bị phù hợp với môn học, trình độ học sinh, mục tiêu dạy học. Ngoài ra, giáo viên cần cung cấp cho học sinh những 7 thông tin cần thiết về tài liệu dạy học [54]. Như vậy, điểm qua sự phát triển của lý thuyết về TBDH trong lịch sử giáo dục thế giới, có thể thấy rằng vai trò của TBDH trực quan đã được phát hiện và phát triển từ rất sớm. Các nhà giáo dục học đã chứng minh được rằng việc khuyến khích học sinh nhận thức thế giới thông qua chính những giác quan của mình là phương pháp dạy học phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ và do vậy nó là phương pháp hữu hiệu nhất giúp trẻ em phát triển tư duy, nhận biết hiện tượng và tiến tới nắm được bản chất của sự vật hiện tượng.
Các nghiên cứu trong nước Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về TBDH và quản lý việc sử dụng TBDH. Về vấn đề này, có thể kể đến các nhà khoa học Việt Nam tiêu biểu đã phát triển và truyền bá lý luận về nguyên tắc dạy học trực quan, đó là các nhà tâm lý học Phạm Minh Hạc, Hồ Ngọc Đại; các nhà giáo dục học Tô Xuân Giáp, Vũ Trọng Rỹ, Trần Khánh Đức… Năm 2005, Chủ nhiệm đề tài Ngô Quang Sơn đã bảo vệ thành công đề tài cấp Bộ về: “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tại các trung tâm GDTX và trung tâm học tập cộng đồng”; tác giả khẳng định vai trò quan trọng của TBDH trong các hoạt động giảng dạy, giáo dục và học tập, đó là: “…TBDH là một bộ phận, là một thành tố không thể thiếu được của quá trình dạy, học tích cực. TBDH vừa là một thành tố, vừa là một phương tiện, một phương hướng, vừa hàm chứa nội dung của quá trình dạy học, đồng thời tạo hứng thú nhận thức cho học viên. TBDH là một trong những điều kiện giúp giáo viên và học viên thực hiện tốt phương châm dạy học phát huy tính tích cực của học viên, tích cực hoá quá trình nhận thức, quá trình tư duy của học viên lớn tuổi…” Việc triển khai dạy học gắn với TBDH ở Việt Nam đã bắt đầu từ thời kì Pháp thuộc, khi các môn Khoa học tự nhiên bắt đầu được đưa vào học trong nhà trường.
Một số trường đã có phòng thí nghiệm cho các môn Lí - Hoá - Sinh và một số trường nghề đã có phòng học nghề. Từ năm 1975, với mong muốn đưa TBDH vào nhà trường, tác giả Nguyễn Gia Cốc đã đề xuất “Mấy ý kiến bước đầu về việc xây dựng trường sở theo hệ thống phòng bộ môn” [10], nêu rõ bản chất của sự thay đổi tổ chức phòng học là “Thay thế nguyên tắc phân chia phòng học theo lớp bằng nguyên tắc phân chia phòng học theo bộ môn”. Như vậy tính theo số liệu của kế hoạch dạy học lúc đó thì tổng số phòng học không đủ cho các lớp, vì vậy đề xuất của tác giả Nguyễn Gia Cốc do nhiều lí do chưa thực hiện được. Trong quá trình đổi mới giáo dục vừa qua, nhu cầu dạy học gắn với TBDH là 8 xu thế tất yếu.
Việc dạy và học trong các phòng học bộ môn đã được triển khai và thu được thành công trong rất nhiều tỉnh thành. Năm 2008 cũng đã có cuộc Hội thảo do Dự án THPT tổ chức với sự tham gia của 63 tỉnh và báo cáo tham luận của 27 tỉnh về “Quản lí, tổ chức, sử dụng và triển khai sử dụng phòng học bộ môn” [12]. Trong Hội thảo nghiên cứu quản lí TBDH được tập trung phân tích. Các tác giả có nhiều nghiên cứu về PHBM như tác giả Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, Phạm Văn Nam đã đưa ra một số vấn đề về lí luận và thực tiễn về PHBM để đổi mới PPDH [35].
Trong một số Luận văn Thạc sĩ về quản lí TBDH như: “Quản lí thiết bị dạy học ở các trường Trung học phổ thông của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay” [49] của tác giả Trần Thế Vinh, Luận văn Thạc sĩ Ngô Văn Bình với đề tài “Các biện pháp quản lí nhằm phát huy hiệu quả của tổ chuyên môn tại trường Trung học phổ thông chuyên Bắc Giang” [2] đề cập đến việc nâng cao hiệu quả của TBDH. Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo ban hành Quy chế thiết bị giáo dục trong trường Mầm non, phổ thông kèm theo Quyết định số 41/2000, đây chính là cơ sở pháp lí đầu tiên để giáo dục Việt Nam đưa TBDH gắn liền với dạy học. Sau đó, Bộ GD&ĐT ra Thông tư số 19/2009/TT-BGD&ĐT ban hành danh mục thiết bị dạy học tối thiểu cấp THCS. Có thể nói dạy học có TBDH đã bắt đầu được thực hiện và triển khai ở Việt Nam.
Để triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và thay Sách giáo khoa lớp 6, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 44/2020/TT-BGD&ĐT quy định danh mục thiết bị dạy học tối thiểu lớp 6. Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư 38/2021/TT-BGD&ĐT ngày 30 tháng 12 năm 2021 về Danh mục thiết bị dạy học tối thiểu cấp THCS để có sự chủ động đầu tư từng bước theo lộ trình thay sách giáo khoa. Như vậy, có thể nói rằng công tác quản lý TBDH có vai trò to lớn trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả khai thác TBDH ở mỗi nhà trường. Bởi vì, nó giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng quan về trình độ, tốc độ phát triển TBDH và mức độ ảnh hưởng của nó tới công nghệ dạy học ở trong nước, khu vực và trên thế giới.
Đánh giá được thực trạng của TBDH, quá trình đầu tư, mua sắm, bảo quản và chất lượng sử dụng, khai thác TBDH ở nhà trường, từ đó hoạch định chiến lược phát triển TBDH một cách lâu dài là việc làm hết sức cần thiết, cấp bách đối với CBQL ở các nhà trường. Cho đến nay việc nghiên cứu quản lý TBDH ở các trường THCS của huyện Hiệp Đức tỉnh Quảng Nam chưa đề tài nào đề cập đến. Đây là lý do để tác giả nghiên cứu một số biện pháp quản lý việc trang bị, bảo quản và sử dụng hiệu quả TBDH ở các trường THCS của huyện Hiệp Đức tỉnh Quảng Nam. Các khái niệm chính của đề tài 1.
Khái niệm quản lý giáo dục 1. Khái niệm Quản lý Theo lí luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin về quản lí: “Quản lí xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí đối với toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra”. Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm. Con người trong hoạt động của mình, để đạt được mục tiêu cá nhân phải dự kiến kế hoạch, sắp xếp trình tự tiến hành và tác động đến đối tượng bằng cách nào đó theo khả năng của mình.
Trong quá trình lao động tập thể càng không thể thiếu được kế hoạch, sự phân công và điều hành chung, sự hợp tác và quản lý lao động… Như vậy quản lý tất yếu nảy sinh và nó chính là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, trong mọi thời đại. Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý.