Tổng quan nghiên cứu

Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đóng vai trò là nền tảng kỹ thuật trực tiếp quyết định chất lượng giáo dục và hiệu quả đổi mới phương pháp sư phạm. Tại thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông – một đô thị trẻ thuộc khu vực Nam Tây Nguyên với diện tích 284,11 km² và dân số đạt 63.046 người (mật độ 222 người/km² theo thống kê năm 2019) – hệ thống giáo dục trung học cơ sở đang trải qua giai đoạn phát triển nhanh chóng về quy mô. Trong năm học 2021 - 2022, toàn thành phố có 8 trường có cấp trung học cơ sở (gồm 5 trường trung học cơ sở và 3 trường liên cấp tiểu học - trung học cơ sở) với quy mô 118 lớp học, 4.768 học sinh và đội ngũ 234 cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên. Mặc dù tổng kinh phí đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho năm học 2021 - 2022 đạt hơn 50 tỷ đồng (trong đó có 42,182 tỷ đồng dành cho việc xây dựng mới 40 phòng học), công tác quản lý và khai thác thiết bị dạy học tại địa phương vẫn bộc lộ nhiều bất cập mang tính cấu trúc.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng thiết bị dạy học tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn hiện đại hóa, công tác bảo quản còn bị xem nhẹ dẫn đến tỷ lệ xuống cấp nhanh chóng, và việc khai thác sử dụng chưa đạt hiệu suất tối ưu. Nghiên cứu xác định mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý thiết bị dạy học, khảo sát và đánh giá toàn diện thực trạng quản lý trang thiết bị tại 5 trường trung học cơ sở công lập trên địa bàn thành phố Gia Nghĩa trong giai đoạn từ năm học 2019 - 2020 đến năm học 2021 - 2022; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu lực quản lý, đáp ứng yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp các căn cứ khoa học giúp các nhà quản lý giáo dục địa phương tối ưu hóa nguồn lực tài chính công, nâng tỷ lệ phòng học đạt chuẩn quốc gia (hiện đạt 5/8 trường) và nâng cao toàn diện chất lượng dạy học ở vùng đồng bào đa dân tộc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của luận văn được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết chu trình quản lý hiện đại và các quan điểm sư phạm trực quan kinh điển. Chu trình quản lý chức năng – bao gồm 4 giai đoạn liên hoàn: Lập kế hoạch, Tổ chức thực hiện, Chỉ đạo điều hành, và Kiểm tra - đánh giá – được vận dụng làm cấu trúc phân tích cốt lõi cho hoạt động quản trị thiết bị dạy học tại cơ sở giáo dục. Bên cạnh đó, luận văn kế thừa quan điểm dạy học trực quan của Jan Amos Komensky (1592 - 1670) với luận điểm bất hủ khẳng định việc dạy học phải dựa trên sự tiếp xúc trực tiếp với sự vật, hiện tượng; kết hợp cùng tư tưởng phát triển giác quan của Johann Heinrich Pestalozzi (1746 - 1827) và luận điểm của Lotx Klinbơ về vai trò của phương tiện vật chất trong việc tổ chức quá trình giáo dưỡng.

Hệ thống lý luận của đề tài làm rõ 4 khái niệm khoa học then chốt:

  1. Quản lý giáo dục: Hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm vận hành hệ thống giáo dục đạt tới các mục tiêu dự kiến.
  2. Quản lý nhà trường: Quá trình tác động có ý thức và định hướng của hiệu trưởng đến tập thể sư phạm, học sinh và các nguồn lực nhằm đảm bảo tối ưu hóa quá trình dạy học và giáo dục.
  3. Thiết bị dạy học: Hệ thống đối tượng vật chất và tất cả phương tiện kỹ thuật được giáo viên và học sinh sử dụng trong quá trình dạy học để chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện kỹ năng, được phân thành 4 nhóm theo phân loại của Bùi Minh Hiền: nhóm thiết bị thí nghiệm thực hành, nhóm phương tiện đổi mới phương pháp dạy học, nhóm thiết bị dạy nghề - hướng nghiệp, và nhóm phương tiện dùng chung phục vụ quản lý, bảo quản.
  4. Quản lý thiết bị dạy học: Hoạt động điều hành có mục đích của chủ thể quản lý nhằm xây dựng, trang bị, bảo quản và tổ chức khai thác có hiệu quả danh mục thiết bị dạy học trong nhà trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng hệ thống nguồn dữ liệu đa tầng bao gồm dữ liệu sơ cấp thu thập từ các phiếu trưng cầu ý kiến khảo sát thực tế và dữ liệu thứ cấp từ các văn bản pháp quy của ngành như Luật Giáo dục, Nghị quyết 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Thông tư 32/2020/TT-BGDĐT ban hành Điều lệ trường trung học, cùng các báo cáo tổng kết năm học của Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Gia Nghĩa.

Cỡ mẫu khảo sát thực chứng bao gồm 200 cán bộ quản lý và giáo viên cùng 250 học sinh thuộc 5 trường trung học cơ sở công lập trên địa bàn (Trường THCS Nguyễn Tất Thành, Trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trường THCS Trần Phú, Trường THCS Phan Bội Châu, Trường THCS Nguyễn Chí Thanh). Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp chọn mẫu cụm đại diện cho cả khu vực phường trung tâm nội thành và các xã vùng ven, đảm bảo tính đại diện cao cho các đơn vị giáo dục có quy mô và điều kiện cơ sở vật chất khác nhau.

Phương pháp phân tích dữ liệu áp dụng toán thống kê mô tả (Descriptive Statistics), phân tích tần số, tỷ lệ phần trăm (%) và tính toán điểm trung bình (ĐTB) dựa trên thang đo Likert chuẩn hóa (từ 1 đến 4 điểm hoặc 1 đến 5 điểm tùy nội dung khảo sát) được xử lý thông qua phần mềm Microsoft Excel. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm định lượng hóa chính xác mức độ nhận thức, tần suất khai thác và hiệu quả thực hiện từng chức năng quản lý, đồng thời kết hợp phương pháp quan sát sư phạm và tọa đàm chuyên gia để làm rõ nguyên nhân sâu xa của các số liệu thu thập được trong khung thời gian nghiên cứu từ năm học 2019 - 2020 đến 2021 - 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực chứng tại 5 trường trung học cơ sở thành phố Gia Nghĩa đã mang lại những kết quả định lượng cụ thể phản ánh rõ nét thực trạng quản lý và sử dụng thiết bị dạy học:

Thứ nhất, về mức độ trang bị thiết bị dạy học, có 75,20% cán bộ quản lý và giáo viên cùng 63,00% học sinh đánh giá danh mục thiết bị đã đáp ứng được mức độ tối thiểu theo quy định của chương trình hiện hành. Tuy nhiên, tỷ lệ đánh giá thiết bị được trang bị ở mức "tốt và phù hợp" chỉ đạt 21,80% ở nhóm cán bộ quản lý, giáo viên và 33,00% ở nhóm học sinh; trong khi đó vẫn còn khoảng 3,00% đến 4,00% ý kiến phản ánh trang thiết bị chưa đảm bảo yêu cầu giảng dạy thực tế.

Thứ hai, về kỹ năng vận hành và mức độ thuần thục của đội ngũ giáo viên, kết quả cho thấy một khoảng trống lớn về năng lực thực hành công nghệ. Có tới 37,50% cán bộ quản lý, giáo viên và 37,20% học sinh thừa nhận giáo viên còn gặp nhiều khó khăn khi sử dụng thiết bị dạy học trên lớp. Tỷ lệ giáo viên sử dụng thiết bị "rất tốt và hiệu quả" chỉ chiếm vỏn vẹn 4,74% theo tự đánh giá của đội ngũ sư phạm và 0,00% theo ghi nhận từ phía học sinh; số lượng giáo viên vận hành ở mức "tương đối tốt" đạt 26,29% (theo giáo viên) và 28,80% (theo học sinh).

Thứ ba, về tần suất khai thác thiết bị trong giờ lên lớp, có 62,50% giáo viên cho biết chỉ sử dụng thiết bị ở mức độ "đôi khi", 30,60% ở mức độ "ít khi", và chỉ có 6,90% khẳng định sử dụng "rất thường xuyên". Đáng chú ý, có sự chênh lệch trong cảm nhận khi 34,40% học sinh cho rằng thầy cô sử dụng rất thường xuyên và 38,40% đánh giá ở mức đôi khi.

Thứ tư, về thực trạng thực hiện chức năng lập kế hoạch quản lý thiết bị dạy học, điểm trung bình chung của cả 7 tiêu chí khảo sát đều chỉ đạt mức trung bình (dao động từ 2,24 đến 2,30 trên thang điểm 4,0). Tiêu chí đạt điểm cao nhất là "Phân tích đánh giá thực trạng điểm mạnh, điểm yếu" với ĐTB = 2,30; trong khi tiêu chí "Xây dựng kế hoạch phối hợp các lực lượng trong và ngoài trường" bị đánh giá thấp nhất với ĐTB = 2,24. Mặc dù 92,00% cán bộ quản lý và giáo viên nhận thức công tác quản lý thiết bị là "quan trọng" và "rất quan trọng" (trong đó 37,00% đánh giá rất quan trọng, 55,00% đánh giá quan trọng), năng lực xây dựng kế hoạch hành động chi tiết vẫn còn nhiều hạn chế.

Thảo luận kết quả

Khi phân tích chuyên sâu các dữ liệu thu thập được, có thể thấy sự mất cân đối rõ rệt giữa nhận thức lý thuyết và hành vi thực tiễn. Dữ liệu khảo sát có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ cột kép so sánh mức độ tương quan đánh giá giữa giáo viên và học sinh đối với tính sẵn sàng của thiết bị, biểu đồ tròn phân bổ tỷ lệ tần suất khai thác thiết bị, và bảng ma trận điểm trung bình thể hiện năng lực thực hiện 4 chức năng quản lý. Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng giáo viên ngại sử dụng thiết bị (với hơn 37% gặp khó khăn) xuất phát từ việc phân bổ thời gian chuẩn bị bài giảng chưa hợp lý và sự thiếu hụt các khóa tập huấn chuyên sâu về thiết bị kỹ thuật số.

Có sự phân hóa sâu sắc giữa các bộ môn: giáo viên khối khoa học tự nhiên (Vật lý, Hóa học, Sinh học) duy trì tần suất sử dụng thiết bị thực hành tương đối đều đặn, trong khi giáo viên khối khoa học xã hội (Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý) rất ít khi khai thác đồ dùng trực quan do thiếu phương tiện nghe nhìn hiện đại. Bên cạnh đó, đội ngũ nhân viên phụ trách thiết bị toàn thành phố chỉ có 25 người trên tổng số 234 cán bộ, hầu hết làm công tác kiêm nhiệm, chưa qua đào tạo nghiệp vụ quản lý kho bãi và bảo dưỡng thiết bị chuyên nghiệp.

Khi đối chiếu với các công trình nghiên cứu trước đây như nghiên cứu của Trần Quốc Bảo tại Thành phố Hồ Chí Minh hay nghiên cứu của Đặng Phúc Tịnh tại huyện Phong Điền (Cần Thơ), kết quả này tái khẳng định một quy luật phổ quát trong quản lý giáo dục: nếu việc đầu tư ngân sách (dù đạt hơn 50 tỷ đồng trong năm học 2021 - 2022) chỉ dồn trọng tâm vào phần vỏ cứng công trình xây dựng (chiếm tới 42,182 tỷ đồng cho 40 phòng học) mà không đi kèm với cơ chế bồi dưỡng năng lực vận hành và ngân sách bảo trì thường xuyên thì hiệu quả khai thác thiết bị dạy học sẽ luôn rơi vào trạng thái lãng phí và suy giảm tuổi thọ nhanh chóng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các điểm nghẽn trong công tác quản lý và khai thác thiết bị dạy học tại các trường trung học cơ sở thành phố Gia Nghĩa, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động chiến lược:

Thứ nhất, đổi mới công tác bồi dưỡng và nâng cao năng lực ứng dụng thiết bị dạy học cho đội ngũ giáo viên. Hiệu trưởng các trường cần chỉ đạo các tổ chuyên môn tổ chức các đợt tập huấn định kỳ 2 lần/học kỳ về kỹ năng khai thác thiết bị số và phòng học bộ môn. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ giáo viên sử dụng thiết bị dạy học thành thạo và hiệu quả từ mức 4,74% hiện tại lên trên 45,00% trong giai đoạn 2023 - 2025, phấn đấu 100% giáo viên thực hiện đầy đủ các tiết dạy có đồ dùng trực quan theo quy định của Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

Thứ hai, chuẩn hóa và tối ưu hóa quy trình lập kế hoạch đầu tư, mua sắm và bảo dưỡng thiết bị. Ban Giám hiệu nhà trường cần phối hợp cùng các tổ chuyên môn xây dựng danh mục trang thiết bị ưu tiên ngay từ đầu mỗi năm học (tháng 8 hàng năm), trích tối thiểu 15,00% đến 20,00% kinh phí chi thường xuyên của đơn vị dành cho công tác sửa chữa, thay thế hóa chất và linh kiện hao mòn. Mục tiêu nâng điểm trung bình của khâu lập kế hoạch từ mức 2,24 - 2,30 lên mức khá (trên 3,20 điểm) trước năm học 2024 - 2025.

Thứ ba, kiện toàn cơ cấu tổ chức và chuẩn hóa chức danh nhân viên chuyên trách thiết bị - thí nghiệm. Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Gia Nghĩa cần tham mưu với Ủy ban nhân dân thành phố tuyển dụng và bố trí đủ 100% định biên nhân viên chuyên trách thiết bị cho 8/8 trường trung học cơ sở và liên cấp, chấm dứt tình trạng giáo viên kiêm nhiệm; đồng thời tổ chức 100% nhân viên tham gia các lớp chuẩn hóa chứng chỉ quản lý thiết bị trường học trong vòng 12 tháng.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong kiểm tra, giám sát và quản lý danh mục thiết bị dạy học. Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng phụ trách cơ sở vật chất triển khai ứng dụng phần mềm quản lý kho thiết bị trực tuyến, số hóa toàn bộ mã định danh tài sản; thiết lập lịch kiểm kê định kỳ 2 lần/năm học (kết thúc học kỳ I và cuối năm học), đảm bảo giảm tỷ lệ hư hao, thất thoát tài sản kỹ thuật xuống dưới mức 2,00% mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao đối với 4 nhóm đối tượng chính trong hệ sinh thái giáo dục:

  1. Cán bộ quản lý tại Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo: Cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng và cơ sở khoa học để xây dựng quy hoạch mạng lưới trường lớp, lập dự toán phân bổ ngân sách đầu tư cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các trường vùng Nam Tây Nguyên trong kế hoạch trung hạn 5 năm.
  2. Ban Giám hiệu các trường trung học cơ sở và trường liên cấp: Cung cấp cẩm nang quy trình quản lý 4 bước (Lập kế hoạch, Tổ chức, Chỉ đạo, Kiểm tra) giúp người đứng đầu nhà trường thiết lập cơ chế phân công, kiểm kê và thúc đẩy đội ngũ giáo viên tích cực khai thác phòng học bộ môn.
  3. Giáo viên các bộ môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội: Cung cấp phương pháp luận và các tiêu chuẩn sư phạm trong việc kết hợp thiết bị trực quan với bài giảng điện tử, giúp cá nhân tự đánh giá và nâng cao kỹ năng sư phạm thực hành theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
  4. Học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục: Cung cấp tài liệu tham khảo học thuật chuẩn mực về khung lý thuyết quản lý cơ sở vật chất, hệ thống bảng hỏi khảo sát định lượng theo thang đo Likert, và phương pháp phân tích thống kê trong nghiên cứu khoa học giáo dục.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao quản lý thiết bị dạy học lại là yếu tố sống còn khi triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018?

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 chuyển đổi căn bản từ truyền thụ kiến thức thụ động sang phát triển phẩm chất và năng lực người học. Thiết bị dạy học đóng vai trò là phương tiện cầu nối để học sinh trực tiếp làm thí nghiệm, trải nghiệm và tự khám phá tri thức. Nếu thiếu trang thiết bị đồng bộ hoặc quản lý lỏng lẻo dẫn đến hư hỏng, giáo viên buộc phải dạy chay, làm triệt tiêu hoàn toàn mục tiêu đổi mới phương pháp sư phạm.

Đâu là nguyên nhân chính khiến hơn 37% giáo viên gặp khó khăn khi sử dụng thiết bị dạy học?

Khó khăn này bắt nguồn từ việc một bộ phận giáo viên lớn tuổi tiếp cận công nghệ thông tin còn chậm, trong khi giáo viên trẻ thiếu kinh nghiệm vận hành các bộ thí nghiệm đa năng hiện đại. Thêm vào đó, áp lực về thời lượng tiết học 45 phút và công tác chuẩn bị dụng cụ phức tạp khiến nhiều giáo viên nảy sinh tâm lý ngại sử dụng, đặc biệt khi thiếu sự hỗ trợ của nhân viên thiết bị chuyên trách.

Nguồn ngân sách hơn 50 tỷ đồng đầu tư năm học 2021 - 2022 đã giải quyết triệt để nhu cầu thiết bị chưa?

Chưa giải quyết triệt để. Trong tổng số hơn 50 tỷ đồng, có tới 42,182 tỷ đồng (chiếm trên 84,00%) tập trung vào xây dựng mới 40 phòng học kiên cố, 8,183 tỷ đồng sửa chữa sân trường và tường rào, 735 triệu đồng sửa bàn ghế. Ngân sách trực tiếp mua sắm thiết bị thí nghiệm hiện đại và phần mềm dạy học số còn chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn, dẫn đến tình trạng phòng học mới nhưng thiết bị bên trong vẫn thiếu đồng bộ.

Vì sao điểm trung bình khâu lập kế hoạch quản lý thiết bị chỉ đạt từ 2,24 đến 2,30 điểm?

Do công tác quản lý tại các trường trung học cơ sở thành phố Gia Nghĩa vẫn mang tính sự vụ và bị động. Cán bộ quản lý chưa xây dựng được kế hoạch dài hạn gắn với dự báo nhu cầu đào tạo; khâu khảo sát ý kiến giáo viên trước khi mua sắm chưa chặt chẽ, và việc phối hợp huy động nguồn lực xã hội hóa ngoài ngân sách nhà nước còn rất hạn chế (đạt điểm thấp nhất 2,24).

Giải pháp nào mang tính đột phá nhất để nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị tại địa bàn miền núi?

Giải pháp đột phá nhất là số hóa toàn diện quy trình quản lý thiết bị gắn với cơ chế đánh giá thi đua của giáo viên. Việc ứng dụng phần mềm quản lý kho, công khai lịch đăng ký mượn trả thiết bị trực tuyến, kết hợp với chỉ tiêu bắt buộc về số tiết dạy thực hành có ứng dụng công nghệ sẽ tạo động lực trực tiếp buộc giáo viên và nhà trường phải chủ động khai thác tài sản hiện có.

Kết luận

  1. Nghiên cứu đã hệ thống hóa hoàn chỉnh khung lý luận về quản lý thiết bị dạy học tại trường trung học cơ sở theo chu trình quản lý 4 chức năng kết hợp nguyên lý dạy học trực quan.
  2. Dữ liệu thực chứng tại 5 trường trung học cơ sở thành phố Gia Nghĩa phản ánh rõ thực trạng: 75,20% thiết bị đạt mức tối thiểu, nhưng có tới 37,50% giáo viên gặp khó khăn khi sử dụng và 62,50% chỉ sử dụng ở mức đôi khi.
  3. Luận văn đã đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi, tập trung vào bồi dưỡng năng lực giáo viên, chuẩn hóa quy trình kế hoạch, bố trí nhân viên chuyên trách và số hóa công tác kiểm tra đánh giá.
  4. Lộ trình triển khai các giải pháp được xác lập cụ thể từ năm 2023 đến năm 2025, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ khai thác thiết bị hiệu quả lên trên 45,00% và chuẩn hóa 100% đội ngũ hỗ trợ kỹ thuật.
  5. Đổi mới quản lý thiết bị dạy học là mệnh lệnh cấp thiết; lãnh đạo ngành giáo dục và Ban Giám hiệu các trường cần khẩn trương chuyển đổi tư duy từ quản lý thụ động sang quản trị hiện đại để tạo bước đột phá vững chắc cho chất lượng giáo dục địa phương.