Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng giáo dục nghệ thuật tại khu vực ngoại thành Hà Nội ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức về cơ sở vật chất và nhận thức xã hội. Trường Trung học cơ sở Hương Sơn tại huyện Mỹ Đức với quy mô ổn định hơn 1.100 học sinh phân bổ tại 32 lớp học là một điển hình cho mô hình trường công lập bán sơn địa. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực tế môn Mỹ thuật nói chung và phân môn Vẽ tranh nói riêng vẫn bị xem là môn học phụ, khiến 100% tiết dạy trước đây chủ yếu diễn ra theo phương pháp truyền thống một chiều từ thầy sang trò. Tình trạng học sinh tiếp thu thụ động, thiếu kỹ năng quan sát thực tế và rập khuôn trong thể hiện ý tưởng tạo hình diễn ra khá phổ biến trong các khối lớp từ lớp 6 đến lớp 9.

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng dạy học phân môn Vẽ tranh, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp sư phạm tích cực nhằm phát huy năng lực sáng tạo của học sinh lứa tuổi 11 đến 14 tuổi. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trực tiếp tại Trường Trung học cơ sở Hương Sơn trong năm học 2016 - 2017, đồng thời đối chiếu dữ liệu phát triển giai đoạn 2015 - 2017. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc thiết lập quy trình dạy học 4 bước tinh gọn, giúp tăng tỷ lệ học sinh đạt điểm Giỏi môn Vẽ tranh từ 34,3% lên 58,6%, đồng thời giảm tỷ lệ bài vẽ mắc lỗi bố cục nghiêm trọng từ 42,0% xuống dưới 8,0%. Kết quả này khẳng định vai trò then chốt của giáo dục thẩm mỹ trong việc hoàn thiện nhân cách Đức, Trí, Thể, Mỹ cho học sinh trung học cơ sở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm, kết hợp cùng lý thuyết giáo dục thẩm mỹ hiện đại của các nhà nghiên cứu giáo dục hàng đầu như Nguyễn Thanh Bình và Trịnh Hoài Thu. Giáo dục thẩm mỹ được định nghĩa là quá trình hình thành định hướng thị hiếu, lý tưởng thẩm mỹ và phát triển năng lực cảm thụ cái đẹp độc lập cho người học trong mối quan hệ với hiện thực cuộc sống. Bên cạnh đó, mô hình dạy học mỹ thuật dựa vào phương tiện trực quan đa chức năng của tác giả Nguyễn Thu Tuấn (2013) được vận dụng để làm sáng tỏ mối liên hệ giữa tư duy hình tượng cụ thể và tư duy trừu tượng khái quát ở lứa tuổi 11 đến 14 tuổi.

Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa và phân tích chuyên sâu trong nghiên cứu gồm:

  • Dạy học tích cực: Phương thức tổ chức giáo dục định hướng học sinh chủ động tìm tòi, khám phá và chiếm lĩnh tri thức dưới sự dẫn dắt của giáo viên.
  • Ngôn ngữ tạo hình: Hệ thống biểu đạt đặc trưng của nghệ thuật thị giác, là sự tổng hòa của đường nét, hình khối, màu sắc, không gian và quy luật bố cục.
  • Phân môn Vẽ tranh đề tài: Phương thức biểu đạt tình cảm, nhận thức và tư tưởng của học sinh về thế giới quan xung quanh thông qua các chủ đề hội họa cụ thể hoặc tự chọn.
  • Phương tiện dạy học trực quan: Hệ thống công cụ sư phạm bao gồm cả giáo cụ truyền thống như tranh mẫu, bảng thị phạm, đồ dùng học tập tự làm và phương tiện kỹ thuật hiện đại hỗ trợ tối ưu hóa bài giảng.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp qua bảng hỏi khảo sát, phiếu đánh giá bài vẽ và biên bản dự giờ, kết hợp dữ liệu thứ cấp từ báo cáo tổng kết giáo dục giai đoạn 2015 - 2017 của Trường Trung học cơ sở Hương Sơn. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 280 học sinh thuộc 8 lớp của khối 6 và khối 7, cùng 2 giáo viên chuyên trách bộ môn Mỹ thuật tại trường. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho các nhóm đối tượng học sinh có năng khiếu, điều kiện gia đình và mức độ nhận thức thẩm mỹ khác nhau.

Phương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc đo lường chính xác các chỉ số biến đổi về kết quả học tập trước và sau thực nghiệm, đồng thời làm rõ nguyên nhân tâm lý lứa tuổi ảnh hưởng đến chất lượng tạo hình. Timeline nghiên cứu được triển khai xuyên suốt 9 tháng của năm học 2016 - 2017, chia thành 3 giai đoạn: khảo sát thực trạng từ tháng 9/2016 đến tháng 11/2016, thực nghiệm sư phạm từ tháng 12/2016 đến tháng 3/2017, và tổng kết đánh giá số liệu từ tháng 4/2017 đến tháng 5/2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về đội ngũ và cơ sở vật chất, 100% giáo viên giảng dạy môn Mỹ thuật tại trường đạt trình độ cử nhân sư phạm và từng đạt giải Ba trong hội thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện. Tuy nhiên, nhà trường sở hữu 0% phòng học chức năng chuyên biệt dành riêng cho môn Mỹ thuật, khiến 100% các giờ học phải diễn ra tại phòng học văn hóa thông thường, gây hạn chế lớn trong việc triển khai các chất liệu tạo hình nâng cao như màu nước, đất nặn hay sơn dầu.

Thứ hai, kết quả khảo sát trước can thiệp cho thấy 68,5% học sinh có thói quen vẽ tự phát mà không qua bước phác thảo bố cục, dẫn đến 42,0% bài vẽ mắc lỗi bố cục lệch mảng chính phụ hoặc hình vẽ quá nhỏ so với khổ giấy. Đáng chú ý, có đến 55,0% học sinh thường xuyên thiếu hoặc quên đồ dùng học tập trước mỗi tiết học vẽ tranh do phụ huynh chưa thực sự quan tâm đầu tư cho môn học.

Thứ ba, sau quá trình thực nghiệm áp dụng quy trình 4 bước đổi mới kết hợp đồ dùng trực quan tự tạo, kết quả học tập tại nhóm thực nghiệm ghi nhận bước đột phá vượt bậc. Tỷ lệ bài vẽ đạt loại Giỏi ở nhóm thực nghiệm đạt 58,6% (tăng 24,3% so với mức 34,3% ban đầu), trong khi nhóm đối chứng chỉ đạt 37,1% (tăng khiêm tốn 2,8%). Tỷ lệ học sinh tự giác chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập ở nhóm thực nghiệm tăng mạnh từ 55,0% lên 92,5%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của sự chuyển biến tích cực bắt nguồn từ việc tinh giản thời lượng lý thuyết xuống còn 12 đến 15 phút, dành hơn 60% thời gian tiết học cho học sinh thực hành và tương tác nhóm. Việc giáo viên chủ động chuẩn bị các bộ đồ dùng trực quan về 4 bước vẽ tranh (Bước 1: Tìm hiểu nội dung đề tài; Bước 2: Xây dựng bố cục; Bước 3: Tìm và vẽ hình; Bước 4: Vẽ màu và hoàn thiện bài) đã khắc phục triệt để rào cản thiếu máy chiếu và phòng chức năng. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các luận điểm của Nguyễn Thu Tuấn (2007, 2013) về giá trị của giáo cụ trực quan trong việc chuyển hóa nhận thức thẩm mỹ từ trực quan sinh động đến tư duy sáng tạo độc lập.

Để làm sáng tỏ sự khác biệt giữa hai nhóm nghiên cứu, dữ liệu có thể được trình bày thông qua biểu đồ cột kép so sánh tỷ lệ xếp loại học lực Giỏi, Khá, Trung bình giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng qua hai giai đoạn trước và sau can thiệp. Đồng thời, một bảng tổng hợp ma trận 4 tiêu chí tạo hình gồm Bố cục mảng, Đường nét tạo hình, Hòa sắc không gian, và Ý tưởng sáng tạo sẽ phản ánh trực quan sự tiến bộ của học sinh vùng bán sơn địa trong việc khai thác các chất liệu văn hóa di sản địa phương như cảnh sắc Chùa Hương vào tác phẩm hội họa.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa và số hóa bộ giáo cụ trực quan 4 bước vẽ tranh. Giáo viên bộ môn Mỹ thuật cần chủ động thiết kế hệ thống bảng biểu, tranh mẫu khổ lớn và video tư liệu ngắn để minh họa sinh động từng thao tác kỹ thuật. Mục tiêu hướng đến là 100% tiết dạy vẽ tranh đều có đồ dùng trực quan tự làm, khống chế thời gian thuyết giảng lý thuyết dưới 15 phút để tối ưu hóa thời gian thực hành. Thời gian thực hiện: Hoàn thành ngay trong học kỳ 1 năm học 2017 - 2018.

Thứ hai, thiết lập không gian nghệ thuật mở và góc trưng bày mỹ thuật tại từng phòng học văn hóa. Ban giám hiệu phối hợp cùng giáo viên chủ nhiệm và chi đoàn thanh niên tận dụng không gian lớp học để trưng bày định kỳ các bài vẽ xuất sắc. Chỉ tiêu đặt ra là 100% lớp học có góc mỹ thuật với tối thiểu 20 bài vẽ được luân chuyển mỗi tháng, giúp tăng 40% mức độ hứng thú học tập của học sinh. Thời gian triển khai: Quý 4 năm 2017.

Thứ ba, đổi mới phương thức kiểm tra, đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực sáng tạo cá nhân. Tổ chuyên môn Nghệ thuật cần chuyển trọng tâm từ chấm điểm kỹ thuật cơ học sang đánh giá ý tưởng, cảm xúc và thái độ học tập. Mục tiêu đạt 100% học sinh được khích lệ cá tính tạo hình, nâng tỷ lệ học sinh tham gia các cuộc thi vẽ tranh cấp huyện lên tối thiểu 25%. Thời gian áp dụng: Xuyên suốt năm học 2017 - 2018.

Thứ tư, đẩy mạnh hoạt động trải nghiệm thực tế và vẽ tranh dã ngoại gắn liền với di tích danh thắng Chùa Hương. Nhà trường phối hợp cùng Ban đại diện cha mẹ học sinh tổ chức các buổi vẽ trực họa phong cảnh thiên nhiên địa phương. Chỉ tiêu đạt tối thiểu 2 đợt ngoại khóa trên một năm học, nâng tỷ lệ học sinh hiểu sâu sắc về giá trị thẩm mỹ di sản quê hương lên trên 85%. Thời gian định kỳ: Tháng 10 và tháng 3 hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, giáo viên giảng dạy môn Mỹ thuật tại các trường trung học cơ sở khu vực ngoại thành và nông thôn. Tài liệu cung cấp giải pháp thực chiến về việc tự làm đồ dùng dạy học trực quan và phân bổ thời lượng 45 phút tiết học hiệu quả trong điều kiện thiếu thốn cơ sở vật chất.

Thứ hai, cán bộ quản lý giáo dục và ban giám hiệu các trường trung học cơ sở công lập. Nghiên cứu mang lại góc nhìn thực tế về cách khắc phục hạn chế phòng học chức năng, xây dựng góc mỹ thuật lớp học và thúc đẩy 100% giáo viên đạt chuẩn chuyên môn đại học.

Thứ ba, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Sư phạm Nghệ thuật, Lý luận và Phương pháp dạy học Mỹ thuật. Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về cấu trúc thiết kế nghiên cứu thực nghiệm sư phạm với cỡ mẫu 280 học sinh và các bảng tiêu chí đánh giá định lượng.

Thứ tư, chuyên viên phụ trách bộ môn Nghệ thuật tại các Phòng Giáo dục và Đào tạo. Công trình cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng các chuyên đề bồi dưỡng phương pháp dạy học tích cực và đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn liên trường.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Đâu là rào cản lớn nhất đối với việc dạy học phân môn Vẽ tranh tại Trường THCS Hương Sơn? Trả lời: Rào cản lớn nhất là cơ sở vật chất thiếu thốn khi nhà trường có 0% phòng chức năng chuyên biệt cho môn Mỹ thuật, cùng định kiến coi Mỹ thuật là môn phụ. Hơn 50% phụ huynh mải lo kinh tế nên chưa đầu tư đồ dùng học tập đầy đủ cho con em, dẫn đến tỷ lệ học sinh quên màu vẽ và giấy vẽ trước can thiệp lên tới 55%.

Câu hỏi 2: Làm thế nào để giải quyết tình trạng thiếu thiết bị công nghệ hiện đại trong giờ vẽ tranh? Trả lời: Giáo viên khắc phục bằng cách tự chế tạo bộ đồ dùng trực quan 4 bước vẽ tranh trên giấy khổ lớn và sử dụng tranh mẫu của học sinh khóa trước. Phương pháp này giúp rút ngắn thời gian thị phạm bảng xuống còn 12 đến 15 phút, giúp học sinh dễ quan sát và nắm bắt quy trình bố cục mà không phụ thuộc hoàn toàn vào máy chiếu.

Câu hỏi 3: Quy trình 4 bước vẽ tranh đề tài gồm những bước cụ thể nào? Trả lời: Quy trình chuẩn gồm 4 bước liên hoàn: Bước 1 tìm hiểu nội dung đề tài thông qua gợi mở trực quan; Bước 2 phác thảo mảng chính và mảng phụ để định hình bố cục tam giác hoặc tròn; Bước 3 tìm dáng và vẽ chi tiết; Bước 4 vẽ màu đậm nhạt để hoàn thiện không gian biểu cảm của tác phẩm.

Câu hỏi 4: Hiệu quả của phương pháp thực nghiệm sư phạm được chứng minh qua những chỉ số nào? Trả lời: Hiệu quả can thiệp được minh chứng rõ nét khi nhóm thực nghiệm đạt 58,6% bài vẽ loại Giỏi (tăng 24,3% so với trước thực nghiệm), trong khi nhóm đối chứng chỉ tăng 2,8%. Tỷ lệ học sinh tự giác chuẩn bị đồ dùng tăng từ 55% lên 92,5%, và tỷ lệ lỗi bố cục giảm từ 42% xuống dưới 8%.

Câu hỏi 5: Việc gắn kết danh thắng địa phương vào bài học vẽ tranh mang lại ý nghĩa gì? Trả lời: Việc khai thác cảnh quan Chùa Hương và thiên nhiên bán sơn địa giúp học sinh dễ dàng liên hệ thực tế, kích thích cảm xúc thẩm mỹ chân thực. Nhờ đó, 85% học sinh trong nhóm thực nghiệm đã thể hiện được các nét vẽ độc đáo, sáng tạo về phong cảnh quê hương thay vì sao chép rập khuôn từ truyện tranh.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Hồ Hồng Đức đã giải quyết triệt để bài toán nâng cao chất lượng dạy học phân môn Vẽ tranh tại trường trung học cơ sở vùng ngoại thành qua 5 điểm cốt lõi:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về giáo dục thẩm mỹ và phương pháp dạy học tích cực cho học sinh lứa tuổi 11 đến 14 tuổi.
  • Khảo sát và đánh giá chính xác thực trạng dạy học Mỹ thuật tại Trường THCS Hương Sơn với quy mô 32 lớp học và hơn 1.100 học sinh.
  • Tinh giản quy trình sư phạm 4 bước vẽ tranh kết hợp giáo cụ trực quan tự tạo, tối ưu hóa 60% thời lượng tiết học cho thực hành.
  • Kiểm chứng thực nghiệm thành công với cỡ mẫu 280 học sinh, nâng tỷ lệ bài vẽ đạt loại Giỏi từ 34,3% lên 58,6%.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi về không gian lớp học mở, đổi mới đánh giá và tích hợp di sản địa phương.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2018 trở đi, mô hình cần được nhân rộng sang các phân môn Vẽ trang trí, Vẽ theo mẫu và Thường thức mỹ thuật tại toàn bộ các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Mỹ Đức. Các cơ sở giáo dục và giáo viên hãy áp dụng ngay bộ giải pháp sư phạm trực quan này để biến giờ học Mỹ thuật thành không gian sáng tạo đầy cảm hứng cho học sinh.