phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý sự phối hợp giữa nhà trƣờng, gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh THPT Chƣơng 2: Thực trạng quản lý sự phối hợp giữa nhà trƣờng với gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh tại các trƣờng THPT trên địa bàn TP. Phan Rang Tháp Chàm, Ninh Thuận Chƣơng 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sự phối hợp giữa nhà trƣờng với gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh tại các trƣờng THPT trên địa bàn Tp Phan Rang Tháp Chàm, Ninh Thuận. 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƢỜNG VỚI GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Nhà giáo dục lỗi lạc J. Nhiều nhà giáo dục lỗi lạc của Liên Xô đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự phối hợp giữa nhà trƣờng và gia đình trong việc thực hiện mục đích giáo dục của nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa. Sự hợp tác thống nhất giữa cha mẹ và thầy cô giáo không những định hƣớng mà còn là động lực giúp cho trẻ có niềm tin vững chắc trong quá trình học tập và rèn luyện [34, tr 289].S Makarenco (1888-1939) đã phân tích sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa nhà trƣờng, gia đình và xã hội.
Cha mẹ, gia đình phải có trách nhiệm cùng với nhà trƣờng và xã hội kết hợp, giúp đỡ và thống nhất trong việc giáo dục trẻ [34, tr 277]. Ở Việt Nam Giáo dục là quá trình tác động tới thế hệ trẻ về tƣ tƣởng, đạo đức, lý tƣởng, hành vi nhằm hình thành niềm tin, động cơ, thói quen, thái độ ứng xử đúng đắn trong xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà giáo dục lớn của dân tộc, Bác đã nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục, tại hội nghị cán bộ Đảng trong ngành giáo dục tháng 6/1957 Bác căn dặn: "Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình, đã giúp cho việc 6 z giáo dục trong nhà trường tốt hơn. Giáo dục dù trong nhà trường có tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn" [3, tr 79].
Giáo dục giúp hình thành nhân cách tốt đẹp của con ngƣời thông qua các mối quan hệ trong gia đình, học ở trƣờng, việc dạy học, tham gia các hoạt động xã hội. Đảng và nhà nƣớc đã có những chỉ đạo, định hƣớng về cách thức, phƣơng pháp và nội dung giáo dục nhằm ngày càng hoàn thiện hơn về lý luận về phối hợp giáo dục phù hợp với sự phát triển của khoa học hiện nay. Điều 93, Luật Giáo dục năm 2005 qui định về trách nhiệm của nhà trƣờng: “Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục” [32, tr 31] Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ban chấp hành trung ƣơng Đảng khóa X đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các lực lƣợng giáo dục: “Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, gia đình, nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi, giàu lòng nhân ái…” Và văn kiện đã nêu cao vai trò của gia đình: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách” [13, tr 77]. Các công trình nghiên cứu về phối hợp giữa nhà trƣờng, gia đình và xã hội: - Tạp chí Giáo dục số 267 (kì 1-tháng 8/2011) của tác giả Lê Gia Thanh nhận định: “Nhà trường phải tổ chức tuyên truyền, bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức.
Xây dựng một môi trường giáo dục tốt cần phải chủ động phối hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương để đạt được mục tiêu giáo dục toàn diện nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng với những đổi mới của đất nước” [36]. 7 z - Trong những năm vừa qua cũng có nhiều luận văn thạc sỹ nghiên cứu về vấn đề phối hợp giáo dục giữa nhà trƣờng, gia đình và xã hội ở tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông của một số tác giả nhƣ: “Một số giải pháp quản lý phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh Tiểu học ở quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh” của thạc sĩ Võ Thị Trúc Mai (năm 2014), “Một số giải pháp kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác quản lý giáo dục học sinh trung học cơ sở trên địa bàn Thành phố Vinh” của thạc sĩ Nguyễn Khắc An (năm 2010), “ phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong thực hiện chương trình giáo dục nhà trường ở trường THCS huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang” của thạc sĩ Trần Văn Bút (năm 2015), “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức trong mối quan hệ phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội ở trường THPT Tân Yên 2, tỉnh Bắc Giang” của thạc sĩ Nguyễn Hữu Tân (năm 2010) “Biện pháp tổ chức phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông huyện Mỹ Đức, Hà Tây hiện nay” của thạc sĩ Bùi Đức Thảo (năm 2008), “Các biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Giao Thủy Huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định” của thạc sĩ Vũ Văn Hùng (năm 2011), “Thực trạng quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình trong công tác giáo dục học sinh ở các trường THPT huyện Cần Đước, tỉnh Long An” của thạc sĩ Hồ Văn Thơm (năm 2009), "Biện pháp quản lý của lãnh đạo trường THPT về việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục ở thành phố Thái Bình hiện nay" Thạc sĩ Trần Anh Dân (năm 2009). Phối hợp giữa nhà trƣờng với gia đình và xã hội phải ngày càng chặt chẽ hơn trƣớc tiên vì mục đích nhằm tập trung sức mạnh thúc đẩy quá trình phát triển nhân cách của học sinh, phải đảm bảo thống nhất trong nhận thức cũng nhƣ hành động giáo dục cùng một hƣớng, tránh sự tách rời, vô hiệu hóa, mâu thuẫn lẫn nhau gây cho các em tâm trạng nghi ngờ, hoang mang, dao động 8 z trƣớc việc định hƣớng, lựa chọn các giá trị tốt đẹp của nhân cách. Những ý kiến của các tác giả về vấn đề phối hợp giữa nhà trƣờng với gia đình và xã hội trong việc giáo dục học sinh tuy có khác nhau, song vấn đề quan trọng nhất và cấp thiết nhất là: cần phải đánh giá đúng thực trạng, từ đó đƣa ra các giải pháp phù hợp với thực tế nhà trƣờng, với gia đình và xã hội nơi đang nghiên cứu.
Nghiên cứu quản lý sự phối hợp trong giáo dục học sinh ở trƣờng THPT trên địa bàn Tp Phan Rang Tháp Chàm là bƣớc tiếp tục làm phong phú thêm lí luận, cơ sở thực triển về quản lý giáo dục, đồng thời cũng góp phần đề ra đƣợc một số biện pháp thiết thực, cụ thể, có hiệu quả, phù hợp với thực trang hơn đáp ứng đƣợc yêu cầu ngày càng của giáo dục ở Ninh Thuận; tạo ra bƣớc chuyển biến cơ bản về chất lƣợng giáo dục, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập của đất nƣớc. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý - Theo Harold Koolz: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó là hiểu được rằng học đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [15]. Theo Bùi Minh Hiển: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [16].
Với những định nghĩa trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau: - Quản lý nhằm đƣa ra các biện pháp để tổng hợp đƣợc nỗ lực của nhiều ngƣời, sao cho từ mục tiêu của từng cá nhân đƣợc tổng hợp lại biến thành thành tựu của xã hội. - Muốn hoạt động quản lý đƣợc tiến hành thành công, thì trƣớc tiên nhà quản lý cần phải xác định rõ đối tƣợng, chủ thể và khách thể quản lý. - Quản lý là hoạt động hƣớng tới mục tiêu là quản lý con ngƣời. - Chủ thể có thể là một nhóm ngƣời, một ngƣời; còn đối tƣợng có thể là nhiều ngƣời hoặc con ngƣời, giới sinh vật hoặc giới vô sinh.
9 z Từ những ý chung của các định nghĩa, ta hiểu theo nghĩa chung nhất là: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong một tổ chức để vận hành tổ chức nhằm đạt mục đích nhất định” [20]. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là hoạt động có tổ chức rất khoa học của con ngƣời nhằm theo đuổi những mục đích của tập thể, mục đích của cá nhân. Mục đích giáo dục cũng chính là mục đích quản lý, cũng là mục đích có tính khách quan. Nhà quản lý, cùng với phụ huynh học sinh, các tổ chức, cá nhân trong xã hội, cùng với đông đảo đội ngũ giáo viên v.v…bằng hành động của mình thực hiện hóa mục đích đó trong hiện thực.
Quản lý giáo dục có hai cấp độ chủ yếu: cấp vi mô và cấp vĩ mô Đối với cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục đƣợc hiểu là những tác động tự giác (có kế hoạch, có mục đích, có hệ thống, có ý thức, hợp quy luật) có chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cao cấp nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trƣờng) nhằm đạt mục tiêu phát triển giáo dục có chất lƣợng. Đối với cấp vi mô, trong phạm vi nhà trƣờng, hoạt động quản lý bao gồm nhiều loại: nhƣ quản lý hoạt động dạy học, quản lý các hoạt động giáo dục, hoạt động xã hội, hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp), hoạt động văn thể, hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp, hoạt động ngoại khóa, hoạt động lao động, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên, hoạt động giáo dục kĩ năng sống, lớp v.