Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lí sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong tổ chức các hoạt động TNST ở các trường THPT. - Chương 2: Thực trạng quản lí sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong tổ chức các hoạt động TNST ở các trường THPT huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. - Chương 3: Biện pháp quản lí sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong tổ chức các hoạt động TNST ở các trường THPT huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP GIỮA GIA ĐÌNH, NHÀ TRƢỜNG VÀ XÃ HỘI TRONG TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Vấn đề trải nghiệm sáng tạo và quản lý hoạt động TNST Học từ trải nghiệm là phương thức học hiệu quả, gắn với vận động, thao tác vật chất, đời sống thực, thông qua làm, qua thực hành. Học qua trải nghiệm giúp người học có được năng lực thực hiện mà còn có những trải nghiệm về cảm xúc, ý chí và nhiều trạng thái tâm lý và cảm xúc cá nhân. Việc học thông qua làm, học đi đôi với hành và học từ trải nghiệm đều giúp người học đạt được tri thức và kinh nghiệm.
Tài liệu tập huấn Kĩ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động TNST trong trường trung học của Bộ GD & ĐT đã định nghĩa “Hoạt động TNST là hoạt động giáo dục trong đó từng cá nhân học sinh được trực tiếp hoạt động thực hiện trong môi trường nhà trường cũng như môi trường gia đình và xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, phẩm chất nhân cách, các năng lực… từ đó tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình” [7. Trong CTGDPT tổng thể ngoài những môn học tiếp tục được phát huy theo hướng phát triển năng lực thì các hoạt động thực tế, xã hội được tăng cường. Hoạt động TNST được coi trọng trong từng môn học, đồng thời trong kế hoạch giáo dục có thời lượng riêng. Bên cạnh việc phát triển phẩm chất và năng lực chung của chương trình giáo dục, hoạt động TNST tập trung phát triển năng lực đặc thù cho học sinh, nhất là trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên; tính tự lập, tự tin, tự chủ; các năng lực sáng tạo, hợp tác, giao tiếp, tự quản lí bản thân.
Hoạt động TNST là môi trường để các em trải nghiệm tất cả những gì mà các em được học, được vận dụng kiến thức do mình kiến tạo dưới sự hướng dẫn của thầy cô giáo để giải quyết thành công 6 z những vấn đề của cuộc sống đặt ra. Hoạt động TNST là con đường thực hiện hiệu quả mục tiêu hình thành và phát triển năng lực người học. Trong những năm gần đây, có rất nhiều công trình nghiên cứu trong nước đề cập đến hoạt động trải nghiệm nói chung và hoạt động TNST trong nhà trường nói riêng. Tác giả Đỗ Ngọc Thống với nghiên cứu “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo - kinh nghiệm quốc tế và vấn đề của Việt Nam” đã giới thiệu kinh nghiệm tổ chức hoạt động TNST trong giáo dục phổ thông nước Anh và Hàn Quốc.
Ông khẳng định: “Lâu nay chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam đã có hoạt động giáo dục nhưng chưa được chú ý đúng mức; chưa hiểu đúng vị trí, vai trò và tính chất của các hoạt động giáo dục. Tác giả Đinh Thị Kim Thoa đã chỉ rõ yêu cầu để phát triển chương trình hoạt động TNST cần phải xác định và xây dựng được khung năng lực, từ đó thiết kế nội dung để đạt được mục tiêu đặt ra trong bài nghiên cứu “Mục tiêu năng lực, nội dung chương trình, cách đánh giá trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo” 35; tác giả Lê Huy Hoàng với bài viết “Một số vấn đề về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới” đã đề cập đến hoạt động TNST là “mang xã hội, thực tiễn đến với môi trường giáo dục trong nhà trường…qua đó hình thành được phẩm chất và năng lực…” 25. Như vậy, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về hoạt động TNST, ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau, song hầu hết chưa đề cập đến vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để tổ chức các hoạt động TNST cho học sinh. Vấn đề quản lí sự phối hợp của các lực lượng xã hội Một trong những điều kiện quyết định chất lượng, hiệu quả tổ chức các hoạt động TNST là đòi hỏi sự phối kết hợp, liên kết giữa nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường.
Việc phối hợp, quản lý sự phối hợp giữa 3 lực lượng giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục cho học sinh đã trở thành một đề tài nghiên cứu khoa học của các nhà giáo dục. Những nhà giáo dục đã đi sâu vào đề tài này phải kể đến các tác giả: Phạm Minh Hạc, Hà 7 z Thế Ngữ, Hà Nhật Thăng, Nguyễn Đức Minh… Mặc dù xuất phát từ các góc độ nghiên cứu khác nhau, nhưng các tác giả đã đã đề cập đến vai trò, vị trí, ý nghĩa cực kỳ quan trọng của sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để nâng cao hiệu quả giáo dục học sinh. Trong những năm gần đây, có một số luận văn QLGD nghiên cứu về vai trò, nhiệm vụ của gia đình, nhà trường và xã hội và sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở những cấp độ và phạm vi khác nhau. Các tác giả đã đưa ra những cơ sở lý luận cơ bản và đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh.
Tác giả Đào Thị Thanh Thủy với đề tài “Quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện An Lão, thành phố Hải Phòng” đã khẳng định vai trò, tầm quan trọng của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc phối hợp giáo dục đạo đức cho học sinh. Tác giả đã đề xuất bốn giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh. Tác giả Trần Anh Dân đã đưa ra sáu biện pháp nâng cao hiệu quả phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong đề tài “Biện pháp quản lý của lãnh đạo trường trung học phổ thông về việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục Ở thành phố Thái Bình hiện nay”; luận văn “Quản lý sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở thị trấn Lương Bằng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên” của tác giả Trần Thị Mai Hanh; Trịnh Thị Thanh Thủy với đề tài “Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang”; …. Như vậy, các công trình nghiên cứu khoa học trên xuất phát từ các góc độ khác nhau nhưng đã đưa ra những cơ sở lý luận cơ bản, đề xuất những giải pháp và mô hình tổ chức thực hiện sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong thực hiện nhiệm vụ giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh.
8 z Qua hệ thống nghiên cứu nói trên, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu riêng rẽ từng nội dung về hoạt động TNST (phân tích sâu về vai trò, mục tiêu, nội dung, hình thức, quản lý các hoạt động TNST) hoặc quản lý sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội nhưng chủ yếu là sự phối hợp trong giáo dục đạo đức cho học sinh. Còn các nghiên cứu về sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong tổ chức các hoạt động TNST cho học sinh các trường THPT ít được đề cập đến. Một số khái niệm có liên quan 1. Quản lý, quản lý nhà trường 1.
Quản lý Hoạt động quản lí là một hiện tượng tất yếu phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người nhằm đoàn kết nhau lại tạo nên sức mạnh tập thể, thống nhất thực hiện một mục đích chung. Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lí: - W.Taylor, nhà quản lý người Mỹ, đã đưa ra khái niệm: “Quản lý là nghệ thuật, biết rõ chính xác cái gì cần làm và cái đó làm thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rõ nhất” [17, tr. - Theo Harold Koontz thì: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất ít nhiều; với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học” [24].
Ở Việt Nam, cũng đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu đưa ra những khái niệm về quản lý: - Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý nhằm phối hợp sự nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [26, tr. - Theo tác giả Trần Khánh Đức thì: “Quản lý là hoạt động có ý thức 9 z của con người nhằm phối hợp hoạt động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả” [16]. - Nhóm tác giả Bùi Minh Hiền - Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo khẳng định: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [23, tr. Tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã định nghĩa: “Quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”[10, tr.